gioiitieuchung

lichsuvanhoa

dialyhanhchinh

dieukientunhien

TRUYENTHANH

TRUYENHINH

 cttdt

i 02

hoi dap

 timhieuphapluat

CUM CONG NGHIEP

22222222222

33333

43545454354

thudientu

Du lịch Lạc Thủy

img

593532
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
1188
690
3832
539822
14279
18607
593532

Your IP: 54.81.197.24
2018-06-22 09:30

Để tăng cường công tác phòng, chống bệnh dại; Tập trung quản lý chặt chẽ đàn chó và nâng cao tỷ lệ tiêm phòng bệnh dại cho đàn chó nuôi; Giảm thiểu số người bị chó cắn và số người tử vong do bệnh dại. Uỷ ban nhân dân huyện yêu cầu các cơ quan, đơn vị thực hiện một số nội dung sau:

- Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các văn bản chỉ đạo, văn bản hướng dẫn liên quan về bệnh dại; Phòng, chống bệnh dại; Chế tài xử lý vi phạm quy định về nuôi chó, về tiêm phòng vắc xin dại; Chính sách bảo hiểm y tế đối với người bị chó cắn trên địa bàn.

- Tiếp tục tuyên truyền Chỉ thị số 31/CT-TTG ngày 06/7/2017 về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng, chống bệnh dại.

- Tăng thời lượng phát sóng các chương trình, phóng sự; đăng tải các tin, bài; lồng ghép nội dung tuyên truyền trong các buổi sinh hoạt đoàn thế, khu dân cứ, thôn xóm về tính chất nguy hiểm của bệnh dại, các dấu hiệu nhận biết động vật mắc bệnh dại; cách xử lý khi bị chó, mèo, động vật nghi mắc bệnh dại cắn; biện pháp phòng, chống bệnh dại có hiệu quả.

- Triển khai các chiến dịch truyền thông; cung cấp tài liệu truyền thông về bệnh dại; Phòng, chống bệnh dại trên người và động vật để nâng cao trách nhiệm của người nuôi chó đối với cộng đồng và nhận thức của người dân để tích cực tham gia công tác phòng, chống bệnh dại tại cộng đồng.

- Tuyên truyền, vận động người dân tham gia giám sát, phát hiện và thông báo cho chính quyền cơ sở, cơ quan thú y và y tế về các trường hợp chó, mèo, động vật nghi mắc bệnh dại để kịp thời xử lý.

Biên tập: Quách Thị Hải Thanh

Kỹ thuật: Hồng Thắm

Để tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước trong hoạt động bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh, ngăn chặn việc khai thác trái phép, vi phạm pháp luật trong hoạt động khai thác cát, sỏi trên sông Bôi, Ủy ban nhân dân huyện yêu cầu các cơ quan, đơn vị thực hiện nội dung sau:

1. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về Giao thông đường thuỷ nội địa. Luật Khoáng sản và các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chống lấn chiếm hành lang bảo vệ luồng và kết cấu hạ tầng giao thông khác bằng những hình thức, biện pháp cụ thể, phù hợp với từng đối tượng tham gia giao thông và tình hình kinh tế, dân trí từng khu vực, góp phần ngăn chặn các hành vi khai thác cát, sỏi trái phép, nâng cao nhận thức cho cộng đồng và người dân hiểu rõ quyền lợi, trách nhiệm trong việc bảo vệ, giữ gìn nguồn tài nguyên cát sỏi, bảo tồn nguồn lợi khoáng sản, góp phần bảo vệ hệ sinh thái.

2. Tuyên truyền, vận động tới cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân tham gia bảo vệ nguồn lợi khoáng sản; khuyến khích phát hiện, tố cáo, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động khai thác, kinh doanh, trái phép cát, sỏi trên sông Bôi.

3. Khuyến khích, cổ vũ và tạo điều kiện để nhân dân sáng tạo, ứng dụng  tiến bộ khoa học kỹ thuật để tìm hoặc tạo ra nguồn nguyên liệu xây dựng thay thế, hỗ trợ cát, sỏi.

4. Tuyên truyền thông tin về hoạt động của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể tổ chức chính trị xã hội có liên quan trong công tác đấu tranh, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đối với hoạt động khai thác cát, sỏi.

5. Xây dựng chuyên trang, chuyên mục, đăng tải các tin bài, phóng sự và phát sóng các chương trình có nội dung liên quan, cung cấp tư liệu chính xác về những hoạt động khai thác cát, sỏi trái phép ở các địa phương cho các cơ quan báo chí, phối hợp với nhân dân phát hiện các điểm nóng về khai thác khoáng sản để cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.

Biên tập: Quách Thị Hải Thanh

Kỹ thuật: Hồng Thắm

           Cộng tác viên: Xuân Đạt

Để tăng cường sức khoẻ về thể chất và tinh thần của người cao tuổi; Nâng cao chất lượng mạng lưới y tế chăm sóc sức khoẻ, phòng bênh, khám, chữa bệnh và quản lý các bệnh mãn tính cho người cao tuổi; Xây dựng môi trường thuận lợi để người cao tuổi tham gia các hoạt động văn hoá, thể thao, du lịch, vui chơi, giải trí; Phát huy vai trò, kinh nghiệm, tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia có hiệu quả vào cáo hoạt động văn hoá, xã hội, giáo dục, kinh tế, chính trị phù hợp với nguyện vọng, nhu cầu, khả năng; Thực hiện đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ của người cao tuổi; Đồng thời nâng cao chất lượng đời sống vật chất của người cao tuổi, hoàn thiện chính sách trợ giúp và bảo trợ xã hội hướng tới đảm bảo mức sống tổi thiểu cho người cao tuổi; Phát triển, nâng cao chất lượng hệ thống dịch vụ và cơ sở chăm sóc người cao tuổi, chú trọng người cao tuổi hệ thống dịch vụ và cơ sở chăm sóc người cao tuổi; Phát triển, nâng cao, chú trọng người cao tuổi khuyết tật, người cao tuổi thuộc diện nghèo không có người phục dưỡng, người cao tuổi dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện với nội dung sau:

1. Thực hiện thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước về người cao tuổi; Già hoá dân số, quyền được chăm sóc sức khoẻ của người cao tuổi tới cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân, đặc biệt là các lãnh đạo, chính quyền, chức sắc tôn giáo, những người có uy tín trong cộng đồng người dân tộc thiểu số. Các hoạt động tuyên truyền thường xuyên, liên tục. Lồng ghép với các hoạt động tuyên truyền theo kế hoạch của địa phương.

2. Đẩy mạnh các hoạt động phối hợp giữa cộng đồng, nhà trường và gia đình nhằm tuyên truyền giáo dục truyền thống “Kính lão trọng thọ”, biết ơn và giúp đỡ người cao tuổi, chăm sóc người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa tại cộng đồng. Phổ biến, truyền đạt những thông tin, kiến thức khoa học nhằm hạn chế các nguy cơ gây bệnh ở người cao tuổi, tăng cường an toàn trong sử dụng thuốc, lạm dụng thuốc chữa bệnh ở người cao tuổi, tăng cường an toàn trong sử dụng thuốc, chống lạm dụng thuốc chữa bệnh đối với người cao tuổi; Ý thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc chủ động tự lo cho tuổi già từ khi còn trẻ, vận động mọi người dân chủ động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm y tế; Tiết kiệm chi tiêu, tích luỹ cho tuổi già.

3. Tuyên truyền cho các cơ quan, tổ chức xã hội và gia đình về trách nhiệm kính trọng, không kỳ thị, coi tuổi già là gánh nặng; giúp đỡ và chăm sóc sức khoẻ, phát huy vai trò người cao tuổi; nghĩa vụ, trách nhiệm phụng dưỡng người cao tuổi trong gia đình có người cao tuổi, trách nhiệm thực hiện tốt và tích cực tham gia giám sát việc thực hiện chính sách của Đảng, nhà nước đối với người cao tuổi. Các thành viên trong gia đình chủ động tìm hiểu về tâm lý và những nguyện vọng chính đáng của người cao tuổi; học hỏi kỹ năng chăm sóc người cao tuổi.

4. Tuyên truyền, vận động, phổ biến các hoạt động của đội ngũ chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại gia đình, tại các trạm y tế nhằm xây dựng, phát triển mô hình tổ tình nguyện viên tại địa phương, các câu lạc bộ chăm sóc khoẻ người cao tuổi, các câu lạc bộ liên thế hệ và các loại hình câu lạc bộ của người cao tuổi khác.

5. Đài Phát thanh-Truyền hình huyện; Trang thông tin điện tử Đăng tải các tin bài, dành thời lượng phù hợp cho các chương trình có nội dung liên quan. Tiếp sóng các chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam tăng cường chất lượng, thời lượng phát sóng có các nội dung liên quan. Tuyên truyền những đơn vị, khu dân cư, câu lạc bộ, gia đình, cá nhân thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động người dân hiểu và thực hiện tốt các phong trào chăm sóc sức khoẻ, cũng như chăm sóc đời sống tinh thần của người cao tuổi.

Biên tập: Quách Thị Hải Thanh

Kỹ thuật: Hồng Thắm

Cộng tác viên: Xuân Đạt

Thực hiện Nghị quyết số 16/2016/NQ-HĐND ngày 22/12/2016 của Hội đồng nhân dân huyện về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017; Uỷ ban nhân dân huyện báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã, an ninh - quốc phòng  6 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2017 như­ sau:

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ

HỘI, AN NINH - QUỐC PHÒNG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2017

 

Huyện Lạc Thuỷ thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội an ninh - quốc phòng 6 tháng đầu năm 2017 trong bối cảnh có những thuận lợi đan xen nhiều khó khăn thách thức; Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp của tỉnh, huyện về chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2017; đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đảm bảo an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh. Cùng với sự cố gắng của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân các dân tộc trong huyện, tình hình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của huyện đạt được kết quả khá toàn diện trên các lĩnh vực. Cụ thể như sau:

 

I. Về kinh tế

          Tổng giá trị sản xuất ư­ớc thực hiện 1.176.880 triệu đồng (giá CĐ 2010), đạt 51,9% kế hoạch, tăng 13,6% so cùng kỳ năm 2016, trong đó:

          - Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ư­ớc thực hiện 333.550 triệu đồng, đạt 48,4% so kế hoạch, tăng 8,8% so cùng kỳ.

          - Công nghiệp và xây dựng 288.700 triệu đồng, đạt 50,1% kế hoạch, tăng 15,2 % so cùng kỳ.

          - Dịch vụ thực hiện 554.630 triệu đồng, đạt 55,4% so kế hoạch, tăng 15,9% so cùng kỳ.

          - Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 18,9 triệu đồng/ngư­ời, đạt 54,9% kế hoạch, tăng 13,1% so cùng kỳ.

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Sản xuất nông nghiệp:

- Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ chiêm xuân 5.208 ha đạt 105,8% so kế hoạch, bằng 100% so với cùng kỳ; trong đó: Cây lúa 1.477,6 ha đạt 101,5% so với kế hoạch, bằng 97,4% so cùng kỳ; cây ngô 1.179,6 ha đạt 101,2% so với kế hoạch, bằng 101,2% so với cùng kỳ; cây lạc 343,6 ha đạt 93,9% so với kế hoạch, bằng 128,3% so với cùng kỳ; rau các loại 745,2 ha đạt 153% so với kế hoạch, bằng 88,6% so với cùng kỳ. Tổng sản lượng lương thực có hạt vụ Chiêm xuân ước đạt 16.073 tấn, đạt 107,7 % kế hoạch, bằng 100,8% so cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng thóc hạt đạt 8.960 tấn, đạt 109,7% kế hoạch, bằng 98,8% so cùng kỳ, năng xuất lúa bình quân đạt 60,6 tạ/ha; Sản lượng ngô đạt 7.113 tấn, đạt 105,2% kế hoạch, bằng 103,4% so cùng kỳ, năng xuất ngô bình quân đạt 60,3 tạ/ha.

- Chăn nuôi, thủy sản: Đẩy mạnh thực hiện các mô hình chăn nuôi tập trung theo hướng công nghiệp hiệu quả kinh tế cao; Tổng đàn chăn nuôi các loại được duy trì ổn định, riêng đàn lợn có xu hướng giảm do giá thịt lợn hơi xuống thấp: Tổng đàn trâu 6.215 con, đàn bò 5.522 con, đàn lợn 35.100 con, đàn gia cầm 760.300 con, đàn dê 6.760 con. 6 tháng đầu năm, đã tiêm và cung ứng 231.100 liều vacxin phòng bệnh cho đàn gia súc, gia cầm. Hoạt động kiểm dịch, kiểm soát giết mổ tại các chợ và các chốt kiểm dịch được duy trì. Tiếp tục phát triển và gây nuôi động vật hoang dã, số lượng nuôi đến nay ước khoảng 4.254 động vật các loại. Tổng diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản 605 ha đạt 100% so với kế hoạch, sản lượng khai thác 323,5 tấn, đạt 47,6% so với kế hoạch.

b) Sản xuất lâm nghiệp: Tết trồng cây Xuân Đinh Dậu, toàn huyện đã trồng 22.400 cây phân tán các loại, bằng 99,5% so cùng kỳ. Gieo ươm 2 triệu cây giống phục vụ kế hoạch trồng rừng năm 2017; 6 tháng đầu năm, đã trồng mới 810 ha rừng sản xuất, đạt 95,3% kế hoạch. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 45,3%. Làm tốt công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.

c) Công tác thủy lợi và phòng chống lũ bão: Thực hiện chiến dịch toàn dân làm thủy lợi đợt I năm 2017; đã đào, đắp kênh mương được 17.200 m3, đạt 100,9% kế hoạch; huy động được 20.399 ngày công, đạt 111% kế hoạch. Chủ động thực hiện các phương án phòng chống hạn, xây dựng kế hoạch tưới tiêu phục vụ sản xuất. Xây dựng và triển khai kế hoạch công tác phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn; sẵn sàng các phương án phòng chống lũ bão.

d) Kinh tế trang trại và phát triển nông thôn:

- Kinh tế trang trại: Toàn huyện 60 trang trại đã được cấp giấy chứng nhận, tăng 7 trang trại so với cùng kỳ. Các trang trại hoạt động tương đối hiệu quả, đã góp phần tạo việc làm cho lao động nông thôn và xóa đói giảm nghèo ở địa phương.

- Xây dựng nông thôn mới: Đến nay huyện có 04 xã  nhóm 1 (đạt 19/19 tiêu chí): Đồng Tâm, Phú Lão, Cố Nghĩa, Thanh Nông. 03 xã nhóm 02 (đạt 15 - 18 tiêu chí): Lạc Long đạt 16 tiêu chí; An Bình, Phú Thành đạt 15 tiêu chí. 06 xã nhóm 03 (đạt 10 - 14 tiêu chí): 02 xã Khoan Dụ, xã Hưng Thi đạt 14 tiêu chí; 03 xã: Yên Bồng, An Lạc, Liên Hòa  đạt 13 tiêu chí; 01 xã: Đồng Môn đạt 11 tiêu chí. Phong trào xây dựng nông thôn mới được các cấp, các ngành và nhân dân đồng tình

2. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, điện lực.

Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ước đạt 200,5 tỷ đồng (Giá CĐ 2010), đạt 50,1% kế hoạch. Một số sản phẩm mang lại giá trị chủ yếu: Khai thác đá các loại 56.270 m3, đạt 43,2% kế hoạch; gạch nung 30,03 triệu viên đạt 50,05% kế hoạch; gạch bê tông 15,2 triệu viên đạt 50,6% kế hoạch. Sản lượng điện thương phẩm phục vụ sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân đạt 23,8 triệu KWh,  mất điện do sự cố 44 lần tương ứng 79 giờ. Tiếp tục tăng cường công tác thu hút đầu tư vào các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện, đến nay có 09 doanh nghiệp đầu tư tại các cụm công nghiệp với số vốn đầu tư 721,1 tỷ đồng, với diện tích cho thuê đất 36 ha.

3. Công tác Tài nguyên và Môi trường, phát triển quỹ đất

          - Công tác quản lý đất đai: Tổng hợp nhu cầu sử dụng đất các công trình dự án đề nghị tỉnh phê duyệt. Tổ chức bàn giao quỹ đất nông lâm trường trả về địa phương quản lý tại xã Đồng Tâm. Quyết định phê duyệt giá đất cụ thể cho 04 công trình, dự án và xây dựng hệ số K cho các loại đất trên địa bàn huyện. Thu hồi 25,6 ha đất phục vụ cho đầu tư xây dựng 08 công trình dự án. Phối hợp với UBND huyện Yên Thủy rà soát và lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 36 hộ dân xóm Hồng xã Bảo Hiệu và 15 hộ dân thôn Lộc Thành xã An Lạc; giải quyết tranh chấp địa giới hành chính xã Hưng Thi và xã Lạc Lương.

- Về môi trường, khoáng sản, tài nguyên nước: Tổ chức phát động phòng trào thi đua “3 sạch” gắn với hưởng ứng tháng hành động vì môi trường, ngày môi trường thế giới 05/6/2017. Tổ chức kiểm tra và lập biên bản, yêu cầu 04 trường hợp chấm dứt khai thác khoáng sản trái phép và 01 trường hợp khai thác vàng sa khoáng trái quy định pháp luật. Xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường cho 02 cơ sở.

- Về công tác phát triển quỹ đất và giải phóng mặt bằng: Đã tổ chức đấu giá quyền sử dụng 17 lô đất tại khu 1 thị trấn Chi Nê với diện tích 1.731 m2, thu ngân sách Nhà nước 4.100 triệu đồng. Thực hiện triển khai công tác giải phóng mặt bằng các công trình, dự án trên địa bàn, trong đó huyện đã quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư  08 công trình, dự án với kinh phí bồi thường 16.000 triệu đồng. Công tác thu hồi, giải phóng mặt bằng một số dự án trên địa bàn huyện còn gặp khó khăn, vướng mắc do một bộ phận nhân dân chưa chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, còn đòi hỏi trái qui định của Nhà nước về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

4. Công tác giao thông vận tải

- Giao thông vận tải: Thường xuyên duy tu bảo dưỡng đảm bảo cho các tuyến đường thông suốt, đi lại thuận tiện. Theo dõi đôn đốc các xã thực hiện tiêu chí 02 nông thôn mới về giao thông. Thực hiện chiến dịch toàn dân làm giao thông nông thôn đợt I năm 2017, kết quả đã duy tu sửa chữa được 310 km đường giao thông nông thôn đạt 100% kế hoạch, phát quang tầm nhìn 242.000 m2 đạt 102,1% kế hoạch, sửa chữa 04 vị trí cầu các loại, tổng ngày công huy động 8.970 công đạt 100% kế hoạch.

- An toàn giao thông: Triển khai “Tháng hành động thiết lập lại trật tự đô thị, bảo vệ hành lang giao thông, chống lấn chiếm và tái lấn chiếm lòng lề đường, hè phố trên địa bàn huyện”. Tổ chức kiểm tra và yêu cầu tháo dỡ đối với các trường hợp vi phạm hành lang giao thông. Đưa bến xe khách Chi Nê vào khai thác sử dụng, phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân.

          5. Quy hoạch kế hoạch, đầu tư xây dựng, thu hút đầu tư

          a) Công tác quy hoạch, kế hoạch:  Xây dựng và triển khai thực hiện Quyết định số 1769/QĐ-UBND ngày 22/12/2016 về việc giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017; Ban hành Quyết định số 55/QĐ-UBND ngày 19/01/2017 về kế hoạch chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2017. Tăng cường công tác chỉ đạo, đôn đốc các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch giao.

          b) Công tác đầu tư:

          - Đầu tư xây dựng cơ bản: Triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về quản lý đầu tư xây dựng từ nguồn vốn đầu tư công theo Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 08/3/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh. 6 tháng đầu năm có 87 công trình đầu tư xây dựng từ nguồn ngân sách Nhà nước, trong đó có 47 công trình xây dựng mới và 40 công trình chuyển tiếp; tổng mức đầu tư 462,4 tỷ đổng (kế hoạch vốn­ năm 2017 được giao 89 tỷ đồng); khối lượng thực hiện các công trình ước đạt 323,7 tỷ đồng, đạt 70% so với kế hoạch; giá trị giải ngân ước thực hiện 53 tỷ đồng, đạt 60% kế hoạch vốn. Một số công trình trọng điểm đang thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư như: Tuyến đường từ quốc lộ 21 đi du lịch Hang Luồn; Chỉnh trang hạ tầng cảnh quan khu di tích lịch sử I Nhà máy in tiền đồn điền Chi Nê (1946 – 1947) xã Cố Nghĩa; Dự án Nhà tưởng niệm Danh nhân và cán bộ, công nhân viên tại khu di tích lịch sử nhà máy in tiền (1946-1947) xã Cố Nghĩa… Đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm như: Đường từ xã Phú Lão đi xã Liên Hòa huyện Lạc Thủy; Hạ tầng du lịch huyện Lạc Thủy; Đường nội thị, thị trấn Chi Nê (tuyến số 6 và tuyến số 7).

- Thu hút đầu tư: Tổ chức hội nghị gặp mặt đầu xuân với các doanh nghiệp, các hợp tác xã, các chủ trang trại tiêu biểu; kịp thời biểu dương, khen thưởng 21 doanh nghiệp, doanh nhân có thành tích xuất sắc năm 2016. Toàn huyện có 37 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 6.985 tỷ đồng, tăng 13 dự án so với cùng kỳ. Tiếp tục phối hợp với các sở, ngành của tỉnh trong triển khai thu hút đầu tư các dự án trên địa bàn như: Dự án cáp treo Hương Bình xã Phú Lão, Nhà máy sản xuất bột nhẹ Xuân Thiện Hoà Bình và các dự án khác

          6. Công tác tài chính, ngân hàng, Kho bạc      

a) Công tác tài chính: Tập trung chỉ đạo các ngành, các xã, thị trấn tăng cường nguồn thu, chống thất thu ngân sách Nhà nước nhất là các nguồn thu từ đấu giá quyền sử dụng đất, thu từ sản phẩm rừng trồng. Thực hiện chi tiêu đúng chế độ chính sách, đúng đối tượng, đảm bảo tiết kiệm hiệu quả, kết quả đạt được cụ thể:

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện 28.629 triệu đồng đạt 61,4% so với dự toán UBND tỉnh giao, đạt 52,1% so với  dự toán HĐND huyện giao.

          - Tổng thu ngân sách huyện ước thực hiện 240.530 triệu đồng đạt 60,9% so với dự toán UBND tỉnh giao, đạt 59,8% dự toán HĐND huyện giao. 

- Tổng chi ngân sách huyện ước thực hiện 222.238 triệu đồng, đạt 56,3% so với UBND tỉnh giao, đạt 55,2% so với dự toán HĐND huyện giao.

b) Hoạt động các ngân hàng: Các ngân hàng đã thực hiện các biện pháp huy động vốn; tập trung cho vay đúng đối tượng, đúng quy định, hạn chế nợ đọng vốn quá hạn; thực hiện chính sách khuyến khích vay vốn trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn (vay trồng cây ăn quả có múi), hộ nghèo, học sinh sinh viên... Các ngân hàng đã huy động vốn đạt 731.458 triệu đồng, tăng 6,1% so cùng kỳ; trong đó: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 500.000 triệu đồng, Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội 231.458 triệu đồng. Tổng dự nợ các ngân hàng 831.458 triệu đồng, trong đó: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dư nợ 600.000 triệu đồng.

c) Kho bạc Nhà nước: Thực hiện tốt công tác kiểm soát thu - chi ngân sách Nhà nước; tập trung kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi sự nghiệp có tính chất đầu tư, chi chương trình mục tiêu và mua sắm tài sản đảm bảo đúng chế độ, hạch toán kế toán chính xác, kịp thời; đã thực hiện các khoản thu 290.718 triệu đồng, bằng 96% so cùng kỳ; chi 498.049 triệu đồng, bằng 94,9% so cùng kỳ.

7. Hoạt động khoa học công nghệ, dịch vụ thương mại

          a) Khoa học công nghệ: Triển khai xây dựng các mô hình: Mô hình trồng cam chín muộn V2, nuôi bò sinh sản. Xét công nhận cho 200 cá nhân có sáng kiến kinh nghiệm trong công tác. Xây dựng nhãn hiệu tập thể “Cam Lạc Thủy” cho các sản phẩm cam của huyện. Triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 tại các xã Thanh Nông, Phú Thành, Phú Lão và thị trấn Thanh Hà.

          b) Dịch vụ thương mại: Tổng giá trị sản xuất ngành dịch vụ ước thực hiện 554.630 triệu đồng, đạt 55,4% so kế hoạch, tăng 15,9% so cùng kỳ. Tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày quyền của người tiêu dùng Việt Nam năm 2017. Thực hiện công tác quản lý đầu tư và phát triển chợ. Tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên địa bàn, đặc biệt là tăng cường kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm tại điểm du lịch Chùa Tiên trong mùa lễ hội xuân 2017; 6 tháng đầu năm, đã kiểm tra 109 cơ sở, xử lý 59 cơ sở với số tiền xử phạt 105,4 triệu đồng.

 II. Văn hóa xã hội

          1. Công tác giáo dục và đào tạo

          Thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác điều hành và quản lý giáo dục. Quy mô trường lớp tiếp tục được duy trì ổn định; toàn huyện có 46 trường, 01 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên với 575 lớp và nhóm trẻ, 13.977 học sinh. Học sinh hoàn thành chương trình tiểu học đạt tỷ lệ 100%, tăng 0,1% so với cùng kỳ; tốt nghiệp trung học cơ sở đạt tỷ lệ 99,7%, giảm 0,3% so với cùng kỳ. Có 232 học sinh đạt giải cấp tỉnh, 01 học sinh khu vực (nhất), 03 học sinh đạt giải cấp Quốc gia (01 nhì, 02 khuyến khích). Tham gia Hội thi “Cô giáo tài năng duyên dáng toàn quốc” năm 2017, kết quả đạt 01 giải nhất. Tham dự Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, cấp học mầm non, tiểu học, THCS đạt 07 giải nhất, 11 giải nhì, 11 giải ba. Tham dự Hội thi Tổ trưởng chuyên môn giỏi cấp tỉnh: cấp tiểu học đạt 01 giải nhất, 02 giải nhì, 01 giải ba; THCS đạt 01 giải nhì, 01 giải ba, 01 giải khuyến khích.

           Duy trì 15/15 xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục (PCGD) mầm non cho trẻ em 5 tuổi, PCGD tiểu học, xóa mù chữ, PCGD Trung học cơ sở, tiếp tục thực hiện PCGD bậc trung học phổ thông theo kế hoạch. Tỷ lệ học sinh bỏ học là 0,6%, tăng 0,3% so với năm học trước. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được quan tâm; có 605 phòng học, trong đó có 484 phòng học kiên cố, chiếm 80%, 65 phòng bán kiên cố, chiếm 10,8%. Tổng số trường đạt chuẩn quốc gia đạt 24/46 trường, đạt tỷ lệ 52,17% (Mầm non 06 trường, Tiểu học 10 trường, THCS 07 trường, TH&THCS 01 trường), tăng 1,19% so với cùng kỳ.

2. Công tác y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình

          a) Công tác y tế

Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân được triển khai hiệu quả. Tăng cường công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh cho người dân; duy trì công tác tiêm chủng; tăng cường công tác giám sát tình hình dịch bệnh trên địa bàn huyện. Trong 6 tháng đầu năm, đã khám bệnh cho  25.267 lượt người, giảm 13,03% so với cùng kỳ; điều trị nội trú cho 4.216 lượt người, giảm 23,4% so với cùng kỳ; điều trị ngoại trú cho 555 lượt người, giảm 57,6% so với cùng kỳ. Thực hiện đảm bảo các chương trình mục tiêu y tế quốc gia, toàn huyện có 10/15 trạm y tế đạt bộ tiêu chí Quốc gia về y tế giai đoạn 2011-2020. Số bác sỹ/vạn dân đạt 6,6 bác sỹ/vạn dân, cao hơn 1,26 bác sỹ/vạn dân tỉnh giao, thấp hơn 0,1 bác sỹ/vạn dân huyện giao. Tổ chức tốt Lễ phát động “Tháng hành động vì an toàn thực phẩm” năm 2017. Tuyên truyền và kiểm tra 135 cơ sở sản xuất, kinh doanh đảm bảo an toàn thực phẩm, trong đó có 30 cơ sở chấp hành tốt, xử phạt cảnh cáo và nhắc nhở 85 cơ sở, xử phạt 20 cơ sở, phạt tiền 44,5 triệu đồng.

 b) Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình

Đẩy mạnh tuyên truyền các chính sách, pháp luật về dân số - kế hoạch hóa gia đình, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản. Đã thực hiện 1.170 lượt biện pháp tránh thai, giảm 16,1% so với cùng kỳ. Trong 6 tháng đầu năm, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức 1,1% bằng cùng kỳ năm 2016. Có 403 ca sinh con, tăng 01 trường hợp so cùng kỳ; trong đó 40 trường hợp sinh con thứ 3, tăng 10 trường hợp so cùng kỳ.

          3. Công tác văn hóa và thông tin, truyền thanh - truyền hình

- Các hoạt động văn hóa, văn nghệ: Xây dựng kế hoạch Đại hội thể dục thể thao các cấp huyện Lạc Thuỷ lần thứ VI năm 2017, tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao điểm tại thị trấn Chi Nê. Thực hiện tốt phong trào “Toàn dân xây dựng  nông thôn mới, đô thị văn minh”. Tham dự các giải thể thao tỉnh năm 2017, đạt 75% chỉ tiêu huyện giao với 04 Huy chương vàng, 03 Huy chương bạc, 02 Huy chương đồng. Tiếp tục duy trì công tác thư viện để phục vụ độc giả với 4.098 quyển sách, đạt 103,8%. Duy trì, thực hiện tốt việc biên tập và mở rộng các chuyên mục trên trang thông tin điện tử; trong 6 tháng đầu năm đã biên tập được 106 tin, bài và đăng tải trên 232 ảnh phản ánh các sự kiện thời sự, chính trị trên địa bàn, đến nay có 135.149 lượt truy cập. Triển khai phần mềm một cửa liên thông điện tử; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc trao đổi, lưu trữ, xử lý văn bản điện tử trên môi trường mạng.

- Về du lịch: Tổ chức Lễ khánh thành và đón Bằng di tích lịch sử cấp tỉnh Trường Cán bộ dân tộc Miền Nam. Tăng cường công tác quản lý và tổ chức lễ hội cổ truyền tại các điểm di tích, đồng thời tuyên truyền và quản lý tốt mùa Lễ hội - Du lịch năm 2017 hướng tới Chương trình Năm Du lịch quốc gia 2017 - Lào Cai - Tây Bắc; tổ chức thành công Lễ khai hội Chùa Tiên xã Phú Lão, Lễ dâng hương, báo công tại khu di tích Nhà máy in tiền xã Cố Nghĩa, với số khách thăm quan du lịch trên địa bàn huyện đạt 450.000 lượt khách, giảm 10% so cùng kỳ; riêng khu du lịch Chùa Tiên đã đón trên 280.000 lượt khách, giảm 6, 7% so với cùng kỳ.

- Hoạt động bưu chính, viễn thông: Được duy trì phát triển, đáp ứng được nhu cầu tiếp cận thông tin của nhân dân. Số lượng báo chí phát hành 158.956 tờ báo các loại, giảm 4% so cùng kỳ. Huy động tiền gửi tiết kiệm dịch vụ bưu điện 6 tháng năm 2016 ước đạt 169 tỷ đồng, tăng 5% so cùng kỳ năm trước. Thực hiện chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp xã hội thường xuyên qua hệ thống bưu điện cho 19.387 đối tượng với kinh phí 58,3 tỷ đồng đạt 99% kế hoạch, tăng 3,7% so cùng kỳ; chi trả cho các đối tượng bảo trợ xã hội cho 11.853 đối tượng với kinh phí 4,5 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 99,2% tăng 41% so với cùng kỳ năm trước; tín dụng cho vay tiêu dùng ước đạt 7,7 tỷ đồng..

- Về truyền thanh, truyền hình: Đã sản xuất được 196 chương trình phát thanh truyền hình, tăng 70 chương trình so với cùng kỳ, với gần 2.400 tin bài, phóng sự; thời lượng phát sóng gần 25.800 giờ trên cả 02 hệ thống phát thanh - truyền hình, tăng 17,3% so cùng kỳ. Toàn huyện có 13/15 xã, thị trấn đã được trang bị đài phát thanh FM.

          4. Công tác lao động, thương binh và xã hội, bảo hiểm xã hội

          - Về lao động, việc làm: Tăng cường công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề, định hướng nghề nghiệp cho các đối tượng lao động. Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm được đẩy mạnh; đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2017; tỷ lệ lao động qua đào tạo trong những tháng đầu năm đạt 28,5% so với kế hoạch tỉnh giao.

- Thực hiện các chính sách xã hội: Thực hiện chi trả chế độ chính sách cho đối tượng người có công, thân nhân gia đình liệt sỹ kịp thời, đúng đối tượng. Chuyển quà Tết của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh cho 1.291 đối tượng với số tiền 256,6 triệu đồng, chuyển quà của Chủ tịch nước cho 1.086 đối tượng với tổng số tiền 224,8 triệu đồng. Tổ chức “Xuân ấm áp, Tết xum vầy” tại 02 xã An Lạc, Phú Thành tặng 175 xuất quà cho hộ nghèo với số tiền là 52,5 triệu đồng; chi trả tiền cho hộ nghèo ăn tết 2.545 hộ với số tiền 763,5 triệu đồng; chi trả trợ cấp cho 1.953 đối tượng với tổng số tiền 1.476,6 tỷ đồng. Cấp 36.480 thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng người có công, người nghèo, người dân tộc thiểu số, các đối tượng bảo trợ xã hội. Hỗ trợ ngân sách để 100% hộ cận nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế. Triển khai tháng hành động vì trẻ em năm 2017 với chủ đề “Triển khai Luật trẻ em và phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em”.

- Công tác chữ thập đỏ: Tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân hưởng ứng tham gia các phong trào, hoạt động do Hội phát động, kết quả: Qua phong trào “Tết vì người nghèo và nạn nhân chất độc màu da cam” đã trợ giúp cho 1.810 hộ gia đình với tổng giá trị 615 triệu đồng; chuyển giao 02 con bò giống cho các hộ gia đình nghèo vay để phát triển kinh tế theo chương trình “ngân hàng bò” trị giá 50 triệu đồng. 

- Công tác bảo hiểm xã hội: Tăng cường thực hiện việc tuyên truyền về Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế. Thực hiện thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đạt 45,28 tỷ đồng, đạt 50,08%  kế hoạch năm, tăng 8% so cùng kỳ; chi trả bảo hiểm xã hội cho 4.016 đối tượng với kinh phí  60,16 tỷ đồng, tăng 1,3% so cùng kỳ. Số người tham gia bảo hiểm y tế 55.106 người, đạt tỷ lệ 84% dân số toàn huyện, tăng 3% so cùng kỳ.

          5. Công tác dân tộc

Tiếp tục thực hiện tốt các chương trình, chính sách dân tộc trên địa bàn huyện đảm bảo công khai dân chủ, đúng đối tượng, đúng chế độ quy định. Thăm hỏi và tặng quà Tết cho 62 người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số với tổng kinh phí 24,8 triệu đồng. Xây dựng danh mục 17 công trình thuộc nguồn vốn Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2017.

III. Xây dựng chính quyền, thanh tra, tư pháp, thi hành án dân sự

1. Công tác xây dựng chính quyền, tôn giáo

- Công tác xây dựng chính quyền: Triển khai công tác cải cách hành chính, xây dựng chính quyền năm 2017 và công bố chỉ số cải cách hành chính năm 2016 của UBND các xã, thị trấn. Hoàn thiện đề án vị trí việc làm trình Sở Nội vụ thẩm định. Ban kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác năm 2017 theo Nghị định 158/2007/NĐ-CP; tăng cường chỉ đạo thực hiện tinh giảm biên chế theo Nghị định 108/20014/NĐ-CP. Tiếp tục thực hiện tốt công tác tổ chức cán bộ, đào tạo bồi dưỡng, quản lý nhà nước về công tác thanh niên, công tác tôn giáo, công tác văn thư, lưu trữ, công tác hội. Triển khai thực hiện công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo quy định. Áp dụng và thực hiện có hiệu quả việc tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Xây dựng, trình Sở Nội vụ thẩm định Đề án thành lập Trung tâm Hành chính công huyện Lạc Thủy.

Trong 6 tháng đầu năm, UBND huyện đã Quyết định bổ nhiệm lại 05 trường hợp, bổ nhiệm mới 06 trường hợp; chuyển chức danh công chức cấp xã cho 20 người; xếp phụ cấp cho 812 cán bộ không chuyên trách thuộc các xã, thị trấn; nghỉ việc hưởng chế độ bảo hiểm cho 42 người; đề nghị Sở Nội vụ thẩm định nghỉ theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP 06 người, nghỉ theo Nghị định 26/2015/NĐ-CP  02 người; bổ nhiệm kế toán trưởng 05 viên chức; bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp và xếp lương cho 968 người; ra thông báo nghỉ hưu 08 viên chức, 01 công chức; thay đổi chức danh nghề nghiệp 01 viên chức; cử 19 cán bộ, giáo viên, công an xã đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; ban hành 09 Quyết định khen thưởng cho 99 tập thể 102 cá nhân có thành tích xuất sắc, tổng số kinh phí khen thưởng 503,11 triệu đồng.

- Công tác tôn giáo: Hướng dẫn tổ chức Lễ Phật Đản và An cư kiết hạ Phật lịch 2016- Dương lịch 2017. Tuyên truyền, vận động các trường hợp xây dựng nhà Thờ họ, xây dựng khu Thiền trái phép chấp hành theo quy định của pháp luật.

2. Công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng

Trong 6 tháng đầu năm 2017, đã triển khai 03 cuộc thanh tra, ban hành 02 kết luận thanh tra. Qua thanh tra phát hiện tồn tại, sai phạm và kiến nghị thu hồi nộp tài khoản tạm giữ của Thanh tra huyện số tiền 45,867 triệu đồng; xử lý khác 63,554 triệu đồng; 04 tập thể và các cá nhân có liên quan đã thực hiện việc kiểm điểm trách nhiệm theo quy định. Tiếp tục theo dõi việc thu hồi số tiền 87,871 triệu đồng và việc tổ chức thực hiện kiểm điểm trách nhiệm của tập thể và các cá nhân có liên quan tới việc quản lý sử dụng ngân sách, các khoản thu, đóng góp của học sinh tại các trường học. Kiểm điểm trách nhiệm 04 tập thể và 28 cá nhân có khuyết điểm để xảy ra sai phạm. Duy trì việc theo dõi, đôn đốc các đơn vị thực hiện Kết luận, Quyết định xử lý sau thanh tra. Công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo đúng quy định.

Trong 6 tháng đầu năm đã tiếp 67 lượt với 89 công dân đến đề nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo; Chủ tịch UBND huyện thực hiện tiếp định kỳ 01 lượt, với 01 công dân, giảm so với cùng kỳ năm trước 05 lượt, tương ứng 83,3%. Đã tiếp nhận, phân loại, xử lý 75 đơn thư các loại (đề nghị, phản ánh 71, khiếu nại 03, tố cáo 01), tăng so với cùng kỳ năm trước 25 đơn, tương ứng 50%. Trong đó có 08 vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND huyện; đã giải quyết xong 04 vụ việc khiếu nại, thuộc thẩm quyền, các vụ việc được giải quyết kịp thời đúng trình tự. Thường xuyên kiểm tra, rà soát các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài, hiện trên địa bàn huyện còn tồn 02 vụ việc. Tổ chức 02 hội nghị tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo với 138 lượt người tham dự. Chỉ đạo thực hiện tốt công tác công khai tài sản, thu nhập năm 2016.

3. Công tác tư pháp và thi hành án dân sự

a) Công tác tư pháp

Xây dựng, kiểm soát, rà soát quy định thủ tục hành chính; văn bản quy phạm pháp luật; tình hình thi hành pháp luật và quản lý, xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật xuống cơ sở bằng nhiều hình thức.

Trong kỳ, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với 06 đối tượng; xử phạt 50 vụ vi phạm hành chính với 48 đối tượng, thu nộp vào ngân sách 12,95 triệu đồng; tổ chức hội nghị tuyên truyền và trợ giúp pháp lý tại 12 xã, thị trấn; tổ chức 49 hội nghị tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật với 3.083 lư­ợt người tham dự, 476 lượt tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng với 56.030 lượt người tiếp cận thông tin; duy trì và phát huy 21 tủ sách pháp luật tại cơ sở, đã có 291 lượt người khai thác (tăng 3,9% so với cùng kỳ); thực hiện trợ giúp pháp lý lưu động 12 đợt với 23 điểm, tổng số 1.038 người tham dự (tăng 42,7%), trợ giúp pháp lý tại văn phòng 10 vụ việc với 10 đối tượng; tiếp nhận và hòa giải cho 46 vụ việc (tăng 43,75%); chứng thực 12.729 trường hợp; đăng ký, cải chính hộ tịch, xác nhận tình trạng hôn nhân ... cho 1.434 trường hợp.

b) Công tác thi hành án dân sự

Thực hiện tốt việc quản lý hoạt động thi hành án dân sự. Số vụ việc thi hành xong là 148/177 vụ việc có điều kiện thi hành, đạt 83,6%; số tiền thu được là 614,011 triệu đồng, đạt 43,7% số có điều kiện thi hành. Số vụ việc đang thi hành là 29/177 vụ việc có điều kiện thi hành, chiếm 16,4%. Số vụ việc chưa có điều kiện thi hành 22/199 vụ việc, chiếm 11,1%. Tổ chức cưỡng chế thi hành án 01 việc với số tiền 166,1 triệu đồng.

IV. Công tác an ninh, quốc phòng

1. Công tác an ninh

Tập trung làm tốt công tác nắm tình hình trên các lĩnh vực an ninh chính trị nội bộ, an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo, hoạt động người nước ngoài vào địa bàn. Xây dựng và triển khai thực hiện tốt các kế hoạch, phương án đảm bảo an ninh trật tự các sự kiện chính trị, văn hóa, các ngày lễ, tết diễn ra trên địa bàn huyện như: Tết Nguyên đán, Lễ hội Chùa Tiên năm 2017, Lễ kỷ niệm 130 năm thành lập huyện, Lễ Khánh thành Bia tưởng niệm và đón Bằng công nhận di tích cách mạng cấp tỉnh “Trường cán bộ Dân tộc Miền Nam”. Công tác lập hồ sơ quản lý giáo dục tại xã, thị trấn, hồ sơ cai nghiện bắt buộc, hồ sơ đưa đối tượng vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng được đẩy mạnh. Tiếp tục duy trì hoạt động hiệu quả 07 cụm an ninh giáp ranh, 17 mô hình tự quản về an ninh trật tự.

Trong 6 tháng đầu năm, xảy ra 20 vụ vi phạm trật tự xã hội, tăng 03 vụ so với cùng kỳ năm 2016; tội phạm về ma túy 03 vụ, tăng 03 vụ; tai nạn giao thông 08 vụ, chết 08 người, bị thương 08 người, so với cùng kỳ tăng 02 vụ, 01 người chết, 05 người bị thương; tệ nạn xã hội 03 vụ, giảm 02 vụ so với cùng kỳ; tổng số án thụ lý điều tra 25 vụ với 33 bị can; bắt giữ 19 đối tượng; xử lý, phân loại, giải quyết 17/17 tin báo, đạt 100%. Kiểm tra, phát hiện 515 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, xử phạt 497 trường hợp, thu nộp ngân sách 203,625 triệu đồng. Vận động nhân dân giao nộp 13 khẩu súng bắn hơi cồn tự chế.

2. Công tác quốc phòng

Duy trì nghiêm chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực sẵn sàng chiến đấu. Ban hành Chỉ thị về nhiệm vụ công tác quốc phòng - quân sự địa phương và tổ chức Lễ ra quân huấn luyện. Điều chỉnh, bổ sung kế hoạch phòng chống lụt bão; phòng chống cháy nổ, cháy rừng, cứu sập; xây dựng, điều chỉnh phương án phòng chống lụt bão giảm nhẹ thiên tai và tổ chức hiệp đồng lực lượng, phương tiện, vật chất.

Chỉ đạo các đơn vị kiện toàn lực lượng dân quân tự vệ với 1.171 đồng chí; lực lượng dự bị động viên với 6.047 đồng chí, 178 xe ôtô. Thực hiện tốt công tác tuyển quân, tổ chức đăng ký cho 365 nam công dân đủ 17 tuổi; phúc tra, rà soát nguồn sẵn sàng nhập ngũ nam thanh niên tuổi 18-25; phúc tra quân nhân dự bị, phương tiện kỹ thuật bàn giao cho Kho KT788/CKTBC/TCKT 40 đồng chí. Tại Lế giao nhận quân năm 2017 đã giao 113 thanh niên, đạt 100% chỉ tiêu. Cử 33 đồng chí cán bộ sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp tham gia tập huấn, kết quả đạt loại khá; tập huấn dân quân tự vệ cho 77 đồng chí. Ra quân huấn luyện 558 đồng chí; huấn luyện thường trực 32 đồng chí; huấn luyện dân quân tự vệ 1.071 đồng chí; huấn luyện lực lượng binh chủng 03 trung đội với 60 đồng chí; huấn luyện lực lượng tự vệ 02 đơn vị với 63 đồng chí. Tổ chức Hội thao cho 02 đơn vị Tự vệ với 63 đồng chí tham gia; tổ chức hội thao cho 27/27 đơn vị dân quân tự vệ.

Tóm lại: 6 tháng đầu năm 2017 trong bối cảnh kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn và thách thức lớn; được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh, Huyện uỷ, hoạt động giám sát có hiệu quả của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện đã tích cực chỉ đạo các ngành, đoàn thể, các xã, thị trấn thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng tại địa phương; công tác xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp được thực hiện có hiệu lực, hiệu quả. Nhiều dự án quan trọng đang được triển khai đầu tư góp phần tăng cường kết cấu hạ tầng phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội tại địa phương; công tác thu hút đầu tư tiếp tục có bước khởi sắc. Chất lượng các hoạt động giáo dục, y tế tiếp tục được duy trì và nâng cao; an sinh xã hội được đảm bảo; Chỉ đạo thành công tổ chức Đại hội thể dục thể thao cấp cơ sở; các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, kỷ niệm các ngày lễ lớn diễn ra sôi nổi. Công tác cải cách hành chính được thực hiện quyết liệt, đưa Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại vào hoạt động. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Đơn thư, khiếu nại của công dân được giải quyết kịp thời.

 Bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn những khó khăn, hạn chế:  

Sản xuất nông nghiệp còn mang nặng tính truyền thống, năng suất cây trồng chưa cao; nhận thực của một bộ phận nhân dân trong công tác tiêm phòng gia súc gia cầm còn hạn chế, đầu ra của sản phẩm chăn nuôi thấp. Việc giải quyết khó khăn cho các nhà đầu tư còn chậm nhất là công tác giải phóng mặt bằng; vẫn còn tình trạng lấn chiếm hàng lang an toàn giao thông. Nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất cho xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, đạt chuẩn quốc gia về y tế còn chưa đáp ứng được yêu cầu; tình trạng: học sinh bỏ học có chiều hướng tăng, sinh con thứ 3 còn cao; công tác phối kết hợp giữa các phòng, ban, ngành, xã, thị trấn trong giải quyết những vấn đề cụ thể còn hạn chế; một số xã, ngành việc điều hành còn thiếu sâu sát, thiếu chủ động; tai nạn giao thông có chiều hướng gia tăng, tai tệ nạn xã hội chưa được giải quyết dứt điểm; vân còn tình trạng xây dựng nhà thờ họ, khu thiền trái phép; an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo vẫn còn tiềm ẩn phức tạp là những khó khăn không nhỏ trong công tác chỉ đạo, điều hành để hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng -  an ninh 6 tháng đầu năm 2017.

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI NHỮNG THÁNG CUỐI NĂM 2017

 

A. Các chỉ tiêu chủ yếu phấn đấu 6 tháng cuối năm 2017

STT Chỉ tiêu Đơn vị  KH 2017 Ước TH 6 tháng 2017 Phấn đấu 6 tháng cuối năm
* Các chỉ tiêu kinh tế      
1 Tốc độ tăng trưởng tổng GTSX % 13,5 13,6 13,5
- Nông lâm nghiệp % 9,0 8,8 9,0
- Công nghiệp - xây dựng % 15,4 15,2 15,4
- Dịch vụ % 15,7 15,9 15,7
2 Cơ cấu kinh tế (GCĐ2010)
  - Nông lâm nghiệp, thuỷ sản % 30,4 28,4 30,4
  - Công nghiệp, xây dựng % 25,4 24,5 25,4
  - Dịch vụ % 44,2 47,1 44,2
3 Thu nhập bình quân đầu người Tr.đ 34,5 18,9 15,6
4 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội Tỷ đồng 1.090 421,5 668,8
- Ngân sách Nhà nước Tỷ đồng 340

61,5

(Tỉnh CĐT: 8,5

Huyện CĐT: 53

278,5
- Thu hút từ các tổ chức, cá nhân Tỷ đồng 750 360 390
5 Thu ngân sách Nhà nước Tr.đ 54.936 28.629 26.307
6 Thu ngân sách địa phương Tr.đ 402.096 240.530 161.566
7 Chi ngân sách địa phương Tr.đ 402.096 222.238 179.858
8 Tổng diện tích gieo trồng Ha 9.189 5.028 4.161
9 Sản lượng lương thực có hạt Tấn 30.696 16.073 14.623
10 Diện tích rừng trồng mới Ha 850 810 40
11 Tỉ lệ hộ sử dụng điện % 99 99 99
12 Xây dựng nông thôn mới: Duy trì 04 xã 19 tiêu chí, các xã chưa về đích phấn đấu đạt thêm từ 1-2 TC Duy trì 04 xã đạt chuẩn NTM, phấn đấu Xã Lạc Long hoàn thành bộ tiêu chí quốc gia XD NTM 2017

Duy trì 04 xã đạt chuẩn NTM, phấn đấu  mỗi xã đạt thêm từ 1 - 2 TC,

Xã Lạc Long hoàn thành bộ tiêu chí quốc gia XD NTM 2017

* Các chỉ tiêu xã hội
13 Số trường học đạt chuẩn tăng thêm Trường 1 - 1
14 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên % 1,1 1,1 1,1
15 Số bác sỹ/ 1 vạn dân BS/VD 6,7 6,6 6,7
16 Tỷ lệ trẻ <5 tuổi SDD thể nhẹ cân % 9,5 - 9,5
17 Tỉ lệ hộ nghèo giảm % Từ 2 - 3% - Từ 2 - 3%
18 Tỷ lệ hộ gia đình văn hoá % 80,9 - 80,9
19 Tỉ lệ lao động qua đào tạo % 47 28,5 18,5
20 Tỉ lệ nhân dân tham gia BH y tế % 83 84 -
21 Số xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế tăng thêm 1 - 1
* Các chỉ tiêu môi trường
22 Tỷ lệ che phủ rừng % 45,3 45,3 45,3
23 Tỉ lệ hộ sử dụng NSH hợp vệ sinh % 88 87 >1

B. Nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu 6 tháng cuối năm 2017

I. Về phát triển kinh tế

          1. Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

a) Sản xuất nông nghiệp:

- Trồng trọt: Tập trung chỉ đạo sản xuất vụ mùa - hè thu, vụ đông năm 2017, phấn đấu hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch giao. Tăng cường năng lực thống thú y, bảo vệ thực vật, chủ động phòng chống các loại dịch cây trồng, vật nuôi. Tăng cường chuyển giao, ứng dụng khoa học – công nghệ và quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao. Phát triển các sản phẩm có lợi thế so sánh như cam, bưởi, gà Lạc Thủy, rau an toàn. Đẩy mạnh phát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị.

- Chăn nuôi, thuỷ sản: Chỉ đạo thực hiện tốt công tác chăn nuôi thú y, phấn đấu ổn định và phát triển đầu đàn gia súc gia cầm; triển khai kế hoạch phòng trừ dịch bệnh gia súc, gia cầm vụ hè thu, vụ đông 2017; duy trì hoạt động các chốt kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ gia súc, gia cầm. Tiếp tục triển khai Nghị quyết số 14/2015/NQ-HĐND ngày 18/12/2015 về phát triển khai thác và nuôi trồng thuỷ sản huyện Lạc Thuỷ giai đoạn 2015 - 2020.

b) Lâm nghiệp: Tiếp tục triển khai công tác trồng rừng năm 2017 kịp thời vụ, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu theo kế hoạch. Tăng cường quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô hanh; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản trên địa bàn và hoạt động kinh doanh, gây nuôi động vật hoang dã.

          c) Thuỷ lợi: Tăng cường các nguồn lực đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nuôi trồng thủy sản; bảo đảm an toàn hồ đập khi lũ bão xảy ra. Quản lý chặt chẽ nguồn nước; thực hiện tưới tiêu phục vụ sản xuất theo kế hoạch. Thực hiện tốt chiến dịch toàn dân làm thuỷ lợi đợt II. Theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, đảm bảo sẵn sang phương án phòng chống khi có lũ bão xảy ra.

d) Xây dựng nông thôn mới và kinh tế trang trại: Đẩy mạnh thực hiện xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Chủ động bố trí nguồn lực từ ngân sách địa phương và tăng cường huy động, lồng ghép các nguồn lực trên địa bàn huyện trong xây dựng nông thôn mới, trong đó lựa chọn các nội dung tác động trực tiếp đến sản xuất, đời sống của nhân dân, xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, văn minh; phấn đấu xã Lạc Long đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017. Thực hiện cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại; nhân rộng các mô hình kinh tế trang trại mang lại hiệu quả kinh tế cao.

          2. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, điện lực

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao, ưu tiên và khuyến khích phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn có lợi thế về tài nguyên như: Sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất gạch không nung, chế biến nông, lâm sản... Phát triển các làng nghề có thế mạnh của địa phương đặc biệt làng nghề chế tác đá cảnh. Tập trung đầu tư hạ tầng và thu hút các nhà đầu tư vào các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện.

Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền việc thực hiện tiết kiệm điện và sử dụng điện hợp lý; nâng cao chất lượng vận hành lưới điện, đảm bảo an toàn trong vận hành, giảm sự cố, ổn định nguồn điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân;  thực hiện các biện pháp giảm tổn thất điện năng, phấn đấu đảm bảo số giờ cấp điện theo kế hoạch.

          3. Công tác quản lý Tài nguyên và môi trư­ờng, phát triển quỹ đất

- Quản lý Tài nguyên và Môi trường: Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất đối với diện tích do các nông, lâm trường không có nhu cầu sử dụng trả về địa phương quản lý, sử dụng. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện cấp mới. Thu hồi và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các công trình dự án thuộc thẩm quyền. Tập trung giải quyết dứt điểm những vướng mắc giải phóng mặt bằng các dự án, tranh chấp đất đai. Tăng cường quản lý tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường trên địa bàn. Giám sát công tác đảm bảo vệ sinh môi trường của Công ty TNHH MTV Sông Hồng.

- Phát triển quỹ đất: Tiếp tục tuyên truyền và tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất tại các khu đất đã được phân lô và phê duyệt giá khởi điểm. Tập trung đẩy mạnh công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, thực hiện quyết liệt nhằm sớm có mặt bằng bàn giao cho các công trình, dự án. Tích tực tuyên truyền, vận động nhân dân tạo sự đồng thuận trong GPMB, chủ trương ứng trước mặt bằng và phong trào hiến đất cho các công trình phục vụ xây dựng nông thôn mới. Đối với các tổ chức, cá nhân cố tình không bàn giao mặt bằng, đòi hỏi ngoài chế độ chính sách đền bù của Nhà nước cần thực hiện tốt các biện pháp nhằm đảm bảo tiến độ thực hiện dự án.

           4. Công tác giao thông vận tải

          - Về giao thông vận tải: Triển khai thực hiện tốt chiến dịch toàn dân tham gia làm giao thông nông thôn đợt II năm 2017. Thường xuyên kiểm tra, duy tu, sửa chữa các tuyến đường, đảm bảo giao thông thông suốt trên địa bàn. Duy trì quản lý điều hành tốt bến xe khách Chi Nê, phục tốt hành khách và phương tiện đi lại được đảm bảo an toàn.

- An toàn giao thông: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông, làm giảm tai nạn giao thông, đặc biệt trong các dịp lễ, mùa mưa bão. Tăng cường kiểm tra và xử lý các trường hợp vi phạm hành lang an toàn giao thông

5. Công tác kế hoạch, đầu tư xây dựng, thu hút đầu tư

- Công tác kế hoạch: Đôn đốc các ngành, các xã thị trấn thực hiện Quyết định số 1769/QĐ-UBND ngày 22/12/2016 về việc giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017; Quyết định số 55/QĐ-UBND ngày 19/01/2017 của Uỷ ban nhân dân huyện về kế hoạch chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2017. Hoàn thành xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018. 

- Đầu tư xây dựng cơ bản, thu hút đầu tư: Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về quản lý đầu tư xây dựng từ nguồn vốn đầu tư công theo Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 08/3/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình, dự án sử dụng ngân sách Nhà nước. Tranh thủ tối đa nguồn hỗ trợ của tỉnh và Trung ương trong đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh công tác thanh, quyết toán vốn đầu tư; tăng cường kiểm tra, giám sát nâng cao chất lượng, hiệu quả các công trình, dự án trên địa bàn.

Theo dõi, đôn đốc các nhà đầu tư triển khai thực hiện các dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư. Tiếp tục phối hợp với các sở, ngành của tỉnh trong triển khai các dự án thu hút đầu tư. Tập trung giải quyết khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp đã và đang thực hiện đầu tư trên địa bàn.

6. Công tác tài chính, ngân hàng, kho bạc

a) Công tác tài chính: Phấn thu ngân sách nhà nước đạt và vượt kế hoạch Hội đồng nhân dân huyện giao. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, sớm đưa dự án vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo nguồn thu lớn, ổn định và bền vững cho ngân sách địa phương. Tăng cường thu nghĩa vụ tài chính trên lĩnh vực đất đai (thông qua công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu từ đấu giá quyền sử dụng đất). Thực hiện các biện pháp tăng cường nguồn thu, chống thất thu ngân sách Nhà nước nhất là đối với thu thuế từ sản phẩm rừng trồng, thuế VAT xây dựng cơ bản. Đảm bảo nguồn cải cách tiền lương cơ sở theo Nghị định số 47/2017/NĐ-CP ngày 24/4/2017 của Chính phủ. Triển khai rà soát các khoản chi, chủ động điều hành ngân sách, đảm bảo chế độ chính sách cho con người và các nhiệm vụ cấp thiết của địa phương; thực hiện các nhiệm vụ chi đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả.

          b) Hoạt động các Ngân hàng: Thực hiện các biện pháp nhằm tăng cường huy động vốn của các tổ chức, cá nhân; tích cực giải quyết vốn vay nhằm tập trung nguồn lực cho đầu tư phát triển; ưu tiên vay vốn phát triển các lĩnh vực nông nghiệp nông thôn và các đối tượng chính sách của nhà nước. Quản lý vốn vay hiệu quả, gắn cho vay phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng các hoạt động tín dụng.       c) Kho bạc nhà nước: Thực hiện tốt công tác phối hợp giữa các ngành có liên quan trong hạch toán các khoản thu - chi qua ngân sách; nâng cao chất lượng điều hành ngân quỹ, tăng khả năng thanh toán cho các đối tượng; đảm bảo an toàn tiền và tài sản Nhà nước.

          7. Về Khoa học công nghệ, dịch vụ

          a) Về Khoa học công nghệ: Tiến hành nghiệm thu các các mô hình đề tài khoa học đã được phê duyệt. Xét duyệt các sáng kiến kinh nghiệm trong công tác đợt II cho các cá nhân. Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát hoạt động đo lường các cơ sở kinh doanh xăng dầu, khí hoá lỏng.

b) Về dịch vụ: Khuyến khích, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư, tạo bước phát triển vượt bậc về dịch vụ. Tăng cường phối hợp liên ngành trong kiểm tra các hoạt động kinh doanh buôn bán nhằm chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại; thường xuyên nắm bắt tình hình hoạt động các cơ sở kinh doanh thương mại, các chợ trên địa bàn huyện

II. Hoạt động văn hóa - xã hội

1. Công tác giáo dục và đào tạo

Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý và các hoạt động giáo dục; triển khai Kế hoạch số 40/KH-UBND ngày 13/4/2017 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hoà Bình về việc thực hiện Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020 định hướng đến năm 2025” trên địa bàn tỉnh Hoà Bình. Quan tâm xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Phấn đấu xây dựng 01 trường đạt chuẩn quốc gia. Đẩy mạnh xã hội hoá để huy động tốt các nguồn lực cho giáo dục. Tăng tỷ lệ huy động trẻ đến trường. Chỉ đạo thực hiện tốt tuyển sinh vào lớp đầu cấp và chuẩn bị các điều kiện cho năm học mới 2017- 2018.

2. Công tác y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình

Tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đẩy mạnh chỉ đạo thực hiện các chương trình mục tiêu y tế Quốc gia. Củng cố, nâng cao năng lực hoạt động của y tế cơ sở và quản lý chặt chẽ các cơ sở hành nghề y dược tư nhân. Nâng cao tỷ lệ bác sỹ/vạn dân. Tiếp tục thực hiện nghiêm theo Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 09/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường trách nhiệm quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm. Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chính sách về dân số, kế hoạch hóa gia đình. Tăng cường việc vận động nhân dân thực hiện bảo hiểm y tế tự nguyện. Duy trì mức tỉ lệ tăng dân số tự nhiên 1,1%; thực hiện đồng bộ các giải pháp hạn chế tình trạng sinh con thứ 3 và mất cân bằng giới tính.

3. Công tác văn hóa và thông tin, truyền thanh - truyền hình

Tăng cường đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ tuyên truyền, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết  của Hội đồng nhân dân huyện về phát triển du lịch huyện Lạc Thủy giai đoạn 2015-2020 tầm nhìn đến năm 2030. Tổ chức Đại hội Thể dục thể thao huyện Lạc Thuỷ lần thứ VI năm 2017. Tiếp tục nâng cao chất lượng và đảm bảo các hoạt động bưu chính, viễn thông; thực hiện các chương trình mục tiêu về phát triển ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm nâng cao chất lượng phát thanh, truyền thanh, truyền hình, đa dạng hoá các hình thức cung cấp thông tin.

4. Công tác lao động, thương binh và xã hội

Tổ chức các hoạt động nhân kỷ niệm 70 năm ngày thương binh liệt sỹ 27/7/1947-27/7/2017. Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách đối đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, ngăn chặn tình trạng nợ bảo hiểm xã hội. Thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm. Tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt kế hoạch đề ra. Triển khai phong trào hiến máu tình nguyện năm 2017.

5. Công tác dân tộc

Tiếp tục thực hiện tốt các chương trình, chính sách dân tộc trên địa bàn huyện đảm bảo công khai dân chủ, đúng đối tượng, đúng chế độ quy định. Thực hiện chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn năm 2017 theo Quyết định số 102/QĐ-TTg ngày 07/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ. Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác quản lý, khai thác, sử dụng và duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng các công trình sau đầu tư nhằm phát huy hiệu quả công trình.

III. Công tác xây dựng chính quyền, hoạt động thanh tra, tư pháp

1. Công tác xây dựng chính quyền, tôn giáo

Tổ chức đánh giá, xếp loại chính quyền cơ sở, đánh giá chỉ số cải cách hành chính cấp huyện, cấp xã năm 2017. Tổ chức xét tuyên viên chức thuộc Sự nghiệp GD&ĐT và thi tuyển công chức cấp xã năm 2017. Tiếp tục triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công viên chức; đôn đốc thực hiện đánh giá công chức, viên chức hàng tháng. Tiếp tục nâng cao năng lực, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức. Thực hiện có hiệu quả việc tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính tại Trung tâm Hành chính công huyện. Đẩy mạnh công tác xây dựng chính quyền, cải cách hành chính, địa giới hành chính; công tác hội, công tác thi đua khen thưởng, văn thư - lưu trữ, công tác thanh niên. Tăng cường quản lý chặt chẽ công tác tôn giáo, tiếp tục vận động và xử lý các trường hợp xây dựng nhà Thờ họ, khu Thiền trái phép nghiêm túc chấp hành theo quy định của pháp luật.

2. Công tác thanh tra, tiếp công dân

Thực hiện đúng quy định về công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo. Tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng kéo dài. Tiếp tục triển khai 05 cuộc thanh tra theo kế hoạch. Tăng cường theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra. Thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng trên địa bàn. Chú trọng công tác thanh tra trách nhiệm thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước trong việc chấp hành pháp luật về  giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng. Tiếp tục đổi mới phương pháp chỉ đạo, điều hành, chủ động triển khai thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ công tác thanh tra, phối hợp với các cơ quan đơn vị nâng cao hiệu lực, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng. Tổ chức tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho Ban thanh tra nhân dân; công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo; phòng chống tham nhũng cho các xã, thị trấn và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn huyện.

3. Công tác tư pháp, thi hành án dân sự

Thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng, kiểm tra, rà soát, theo dõi thi hành văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến Luật, Bộ luật và các văn bản hướng dẫn thi hành  sát thực, nâng cao nhận thức của cán bộ và mọi tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức. Chỉ đạo thực hiện tốt công tác hòa giải, nhiệm vụ chứng thực và quản lý hộ tịch theo quy định.

Tăng cường phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện tốt việc quản lý hoạt động thi hành án dân sự; công tác rà soát, xác minh phân loại án, chú trọng công tác chỉ đạo giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong công tác thi hành án, miễn, giảm thi hành án dân sự; phấn đấu đạt chỉ tiêu kế hoạch tỷ lệ thi hành án năm 2017.

IV. Công tác an ninh, quốc phòng

1. Công tác an ninh

Chủ động nắm, dự báo tình hình và giải quyết dứt điểm những vấn đề liên quan đến an ninh trật tự ở cơ sở, nhất là an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo. Nâng cao chất lượng công tác điều tra các vụ án hình sự theo đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra oan sai. Tăng cường phối hợp quản lý, giáo dục các đối tượng đang chấp hành quyết định của Toà án nhân dân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại cộng đồng. Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ an ninh nhân dân, tổ hòa giải, tổ tuần tra canh gác và các cụm an toàn về an ninh trật tự. Tích cực nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong công tác quản lý cư trú, tạm trú tạm vắng, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, quản lý các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự. Tăng cường công tác tuần tra, xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông.

2. Công tác quốc phòng

Tiếp tục duy trì nghiêm chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực sẵn sàng chiến đấu. Đảm bảo lực lượng, phương tiện cho nhiệm vụ phòng chống lụt bão, cứu hộ cứu nạn. Tổ chức kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống lực lượng vũ trang tỉnh Hòa Bình (16/8/1947 – 16/8/2017). Tổ chức huấn luyện diễn tập chỉ huy cơ quan một bên một cấp trên bản đồ. Chỉ đạo các xã Phú Thành, Cố Nghĩa, Hưng Thi tổ chức diễn tập chiến đấu phòng thủ kết hợp với diễn tập phòng chống lụt bão – tìm kiếm cứu hộ cứu nạn. Tiếp tục chỉ đạo xét duyệt, thẩm định hồ sơ, giải quyết chính sách cho các đối tượng. Đảm bảo tốt công tác hậu cần, hậu cần kỹ thuật, tài chính cho các nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, diễn tập và nhiệm vụ phòng chống cháy nổ, cháy rừng, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn.

Trên đây là báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm 2017, Uỷ ban nhân dân huyện trình Hội đồng nhân dân huyện khoá XIX, kỳ họp thứ Ba./.

           Nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về truyền thống vẻ vang 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang (LLVT) tỉnh Hoà Bình. Ban Tuyên giáo Huyện uỷ sao gửi đề cương tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống LLVT tỉnh Hoà Bình (16/8/1947 – 16/8/2017) do Phòng Chính trị - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh biên soạn với các nội dung sau:

 

 

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

Kỷ niệm 70 năm ngày Ngày truyền thống LLVT tỉnh Hoà Bình

(16/8/1947 - 16/8/2017)

          Nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Tỉnh đội - ngày truyền thống LLVT tỉnh Hòa Bình (16/8/1947 - 16/8/2017); để ôn lại lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc và LLVT tỉnh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhằm cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ LLVT, các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ tỉnh Hòa Bình tiếp bước cha anh, phát huy truyền thống hào hùng của dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới. Phòng Chính trị - Bộ CHQS tỉnh biên soạn “Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Tỉnh đội - ngày truyền thống LLVT tỉnh (16/8/1947 - 16/8/2017)” làm tài liệu để tuyên truyền lịch sử, truyền thống 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của LLVT trong cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

Phần I:

LLVT TỈNH HOÀ BÌNH 70 NĂM XÂY DỰNG,

CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH

Hoà Bình là tỉnh miền núi, nơi tiếp giáp giữa đồng bằng Bắc bộ với vùng Tây Bắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến l­ược trong lịch sử dựng n­ước và giữ n­ước của dân tộc. Nhân dân các dân tộc Hoà Bình có truyền thống đoàn kết keo sơn, lòng yêu nước nồng nàn, cần cù lao động, bất khuất trong đấu tranh chế ngự thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm. Trong lịch sử dựng nước và giữ n­ước, từ triều đại của Nhà nước Văn Lang cho đến các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Quang Trung Nguyễn Huệ... nhân dân Hòa Bình đã tích cực tham gia, hưởng ứng, ủng hộ sự nghiệp giành độc lập dân tộc.

Năm 1858, thực dân Pháp mở đầu cuộc xâm l­ược nư­ớc ta, nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nư­ớc trong phong trào Cần Vương nhất tề đứng lên chống thực dân Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ở các địa phương trong tỉnh liên tiếp nổi dậy đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột của bọn đế quốc, tay sai bán nước, tiêu biểu như: tích cực tham gia các cuộc kháng chiến cần vương của nghĩa quân Đốc Ngữ ở sông Đà, Đốc Tam ở Lạc Thủy, Đinh Công Uy ở Kỳ Sơn, Lương Sơn (1886 - 1892), cuộc khởi nghĩa của Tổng Kiêm, và Đốc Bang (1909) ở vùng Lương Sơn, Kỳ Sơn ...

Từ khi có Đảng, Bác Hồ chỉ lối, soi đ­ường, nhân dân các dân tộc Hòa Bình một lòng, một dạ đi theo Đảng, cùng với nhân dân cả nư­ớc anh dũng chiến đấu, hy sinh, lập nên những chiến công hiển hách, đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhân dân các dân tộc trong tỉnh luôn giữ vững bản chất cách mạng, liên tục hoàn thành các mục tiêu phát triển KT-XH, QP-AN, xây dựng tỉnh ngày càng giàu mạnh.

I. SỰ HÌNH THÀNH CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG, CÁC CHIẾN KHU CÁCH MẠNG VÀ CÁC ĐỘI VŨ TRANG LÀM NÒNG CỐT CÙNG NHÂN DÂN ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN THÁNG 8 NĂM 1945.

1. Sự hình thành các tổ chức cách mạng của Đảng.

Tháng 8/1929, ánh sáng cách mạng vô sản được truyền bá vào Hòa Bình, do đồng chí Đào Gia Lưu, cán bộ hoạt động bí mật của Đông Dương Cộng sản Đảng Tỉnh ủy Nam Định bị thực dân Pháp điều lên dạy học tại huyện Lạc Sơn. Nhân việc đó, đồng chí được giao nhiệm vụ tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, gây dựng cơ sở cách mạng trên địa bàn Hòa Bình. Sự kiện trên mang ý nghĩa lịch sử, đánh dấu ánh sáng cách mạng đã truyền tới tỉnh Hòa Bình.

Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, như một luồng gió mạnh thổi bùng lên phong trào đấu tranh cách mạng sôi động, rộng khắp trong cả nước. Ở tỉnh Hòa Bình, ngày 1/12/1930, Tổ đảng Hoàng Đồng, thuộc Chi bộ Thanh Khê - Trung Trữ, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình được thành lập tại xã Khoan Dụ, huyện Lạc Thuỷ. Tổ Đảng đi vào hoạt động và đã ảnh hưởng sâu đậm trong nhân dân địa phương. Đây là dấu son trong tiến trình đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình.

Trong phong trào đấu tranh dân chủ (1936 - 1939), nhiều cơ sở cách mạng được xây dựng, phát triển mạnh mẽ và kiên cường, đứng vững qua các cuộc khủng bố, áp bức quyết liệt của thực dân, phong kiến; đồng thời đã vận động tập hợp quần chúng đấu tranh chống bọn quan lang, địa chủ, cường hào giành thắng lợi, góp phần cổ vũ phong trào đấu tranh dân chủ đòi tự do ở tỉnh Hòa Bình.

Tháng 5/1941, Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị lần thứ 8, đề ra nhiệm vụ chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Tháng 8/1941, Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ lần lượt cử cán bộ đến Hòa Bình hoạt động, tuyên truyền vận động nhân dân, xây dựng cơ sở, đẩy mạnh phong trào cách mạng. Đến năm 1943, chi bộ đảng trong Nhà tù Hòa Bình trực thuộc Trung ương Đảng được thành lập, do đồng chí Lê Đức Thọ làm Bí thư. Cuối năm 1943, Mặt trận Việt Minh tỉnh Hòa Bình được thành lập. Cuối năm 1944, đầu năm 1945, các cơ sở cách mạng được xây dựng tại thị xã Hòa Bình, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, phố Vãng, huyện Mai Châu, Nật Sơn, huyện Kim Bôi. Tháng 1/1945, Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh Hòa Bình, chỉ định đồng chí Vũ Thơ giữ chức Bí thư. Đến 1/5/1945, chi bộ Đảng thị xã Hoà Bình được thành lập, gồm 3 đảng viên, do đồng chí Nguyễn Đình Khanh làm Bí thư (Đây là tổ chức cơ sở Đảng đầu tiên ở tỉnh Hoà Bình).

2. Sự hình thành các chiến khu cách mạng và đội tự vệ cứu quốc.

Tháng 2/1945, Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, quyết định thành lập các chiến khu trên cả nước và chỉ thị cho các tỉnh chuẩn bị tích cực công tác khởi nghĩa. Thực hiện chủ trương của Trung ương, Ban Cán sự Đảng tỉnh phối hợp với Ban cán sự Đảng các tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình thành lập chiến khu Hòa - Ninh - Thanh (Chiến khu Quang Trung); đồng thời quyết định xây dựng 4 chiến khu các mạng trên địa bàn tỉnh và đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang.

Căn cứ cách mạng Tu Lý - Hiền Lương: Nằm trên địa bàn 2 xã Tu Lý và Hiền Lương, huyện Đà Bắc. Đây là chiến khu cách mạng đầu tiên của tỉnh Hoà Bình được thành lập tháng 2/1945, với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng LLVT địa phương của tỉnh. Tại đây, tổ chức vũ trang đầu tiên chính thức ra mắt và hoạt động, do đồng chí Vũ Thơ trực tiếp huấn luyện, sau 7 ngày (từ 16 đến 22/02/1945) lớp học kết thúc, sau đó phong trào cách mạng trong vùng phát triển mạnh mẽ (trong tháng 4 và tháng 5 đã hình thành 3 đội tự vệ cứu quốc là: Giáp Thượng và Giáp Hạ do đồng chí Hà Văn Nông chỉ huy với 23 đội viên với 2 khẩu súng và gậy gộc giáo mác; đội tự vệ dân tộc Dao ở Toàn Sơn do Triệu Phúc Lịch chỉ huy với 20 đội viên và đội tự vệ cứu quốc Hiền Lương do đồng chí Bình Huấn chỉ huy với 21 đội viên). Trong khởi nghĩa tháng 8/1945, lực lượng cách mạng chiến khu Tu Lý và Hiền Lương đã đóng vai trò quan trọng giành chính quyền ở tỉnh lỵ ngày 23/8/1945.

Căn cứ cách mạng Mường Diềm: Thuộc xã Hào Tráng huyện Đà Bắc (nay đã bị ngập dưới lòng hồ sông Đà)[1]. Được Ban cán sự Đảng tỉnh Hoà Bình thành lập tháng 4/1945, với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng và huấn luyện lực lượng vũ trang cách mạng với 100 người, trang bị 50 súng trường, 2 đại liên, ở các làng trong Chiến khu đều lập được các tổ tự vệ cứu quốc từ 10 dến 15 đội viên. Xây dựng thành công Chiến khu Mường Diềm là thắng lợi lớn của phong trào cách mạng ở Hòa Bình; lôi kéo được quan lang, có quần chúng Nhân dân, có lực lượng vũ trang.

Căn cứ cách mạng Cao Phong - Thạch Yên: Thuộc 2 xã Cao Phong và Thạch Yên huyện Kỳ Sơn, (nay thuộc xã Yên Lập và Yên Thượng, huyện Cao Phong), được thành lập tháng 4/1945[2], với nhiệm vụ xây dựng và huấn luyện lực lượng vũ trang cách mạng với 30 tự vệ cứu quốc thị xã đưa vào làm nòng cốt. Kết thúc khóa huấn luyện, các học viên tỏa về các xóm, mỗi người tự lo tìm người vận động; tổ chức và huấn luyện một Tiểu đội (đến tháng 7/1945 xây dựng được 30 tiểu đội tự vệ cứu quốc với hàng trăm đội viên). Thanh thế của Việt Minh đã động viên tinh thần cách mạng của Nhân dân trong vùng; đã hỗ trợ đắc lực cho khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh lỵ Hoà Bình thắng lợi vào ngày 23/8/1945.

Căn cứ cách mạng Mường Khói: Thuộc 2 xã Hoài Ân và Hiếu Nghĩa (nay thuộc xã Ân Nghĩa và Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn), được thành lập sau Hội nghị  tháng 4/1945 của Ban cán sự Đảng tỉnh Hòa Bình, nhằm nối liền phong trào cách mạng Hòa Bình với Chiến khu Quỳnh Lưu, Ninh Bình, có nhiệm vụ xây dựng và huấn luyện lực lượng cách mạng ở địa phương. Tại Chiến khu đã xây dựng được 02 đội tự vệ cứu quốc, các tổ chức quần chúng cách mạng được hoạt động công khai. Cuối tháng 7/1945, Xứ uỷ Bắc Kỳ quyết định chọn Mường Lọt (thuộc chiến khu Mường Khói) để mở lớp huấn luyện quân sự. Lớp học được mang tên "Trường Sơn du kích kháng Nhật học hiệu" với 26 học viên là cán bộ lãnh đạo quân sự của các tỉnh Sơn La, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nội, Hòa Bình, Thái Bình do đồng chí Vương Thừa Vũ phụ trách.

Đến tháng 8/1945, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang cách mạng tỉnh Hòa Bình phát triển mạnh mẽ, nhất là ở vùng nông thôn Mai Đà, Lương Sơn, Kỳ Sơn, huyện Lạc Thủy, phố Vãng, huyện Mai Châu, thị trấn Vụ Bản, thị xã Hòa Bình và Châu Lạc Thủy.

3. Nhân dân các dân tộc Hòa Bình trong phong trào đấu tranh giành chính quyền tháng 8/1945.

Ngày 14/8/1945, Phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc, tạo thời cơ giành độc lập dân tộc cho nhân dân Việt Nam. Đón nhận thời cơ cách mạng nghìn năm có một, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) từ 13 đến 15/8/1945, quyết định phát động nhân dân cả nước đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 16/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa.

Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Bắc kỳ và Ban Cán sự đảng tỉnh Hoà Bình, từ Chiến khu Mư­ờng Khói, lực lư­ợng chính trị, lực lượng vũ trang làm nòng cốt cùng đông đảo quần chúng nhân dân đứng lên khởi nghĩa tiến ra châu lỵ Lạc Sơn và tỉnh lỵ Hoà Bình, đập tan bộ máy ngụy quyền tay sai của giặc Nhật, giành chính quyền thắng lợi ngày 23/8/1945, lập nên y ban Cách mạng lâm thời các cấp. Chỉ trong vòng 10 ngày khởi nghĩa (Từ 17 đến 26/8/1945), kỷ nguyên mới, nhân dân đứng lên làm chủ vận mệnh đất nước bắt đầu[3].

II. ANH DŨNG KIÊN CƯỜNG VƯỢT QUA MỌI KHÓ KHĂN THÁCH THỨC, XÂY DỰNG LLVT LÀM NÒNG CỐT CÙNG NHÂN DÂN CHIẾN ĐẤU, PHỤC VỤ CHIẾN ĐẤU GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1946 - 1954).

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền nhân dân các cấp ở Hòa Bình vừa được thành lập đã phải đối phó quyết liệt với 3 thứ giặc: “gặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Trước tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc”, quán triệt sâu sắc chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc” của Trung ương Đảng, Chỉ thị của Liên khu uỷ 3 và Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Hoà Bình, phong trào toàn dân xây dựng LLVT ngày càng sôi nổi, rộng khắp. Sau cách mạng tháng 8/1945 nhân dân chủ yếu tham gia vào các đội tự vệ cứu quốc, đoàn thể cứu quốc… Vì vậy, năm 1946 quân và dân các dân tộc Hoà Bình đã đập tan âm mưu và hành động của bọn phản động, lập chiến công xuất sắc bảo vệ an toàn chính quyền non trẻ.

Thực dân Pháp bộc lộ rõ âm mưu cướp nước ta một lần nữa. Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Tháng 2/1947, Bộ Quốc phòng ra thông tư quy định: Vào dân quân là nghĩa vụ của mọi công dân từ 18 đến 45 tuổi. Ở thôn và xã có 2 lực lượng là dân quân và du kích, đây là những lực lượng chiến đấu do nhân dân trang bị và đảm bảo bằng cách dựa vào sự đóng góp của nhân dân. Tháng 3/1947, Chính phủ quyết định xây dựng các ban chỉ huy tỉnh đội, huyện đội, xã đội dân quân thuộc Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp. Tháng 4/1947, Trung ương Đảng ra quyết định về xây dựng lực lượng dân quân du kích, tự vệ.

Thực hiện chủ trương của Trung ương, Chính phủ và Bộ Quốc phòng, để đáp ứng yêu cầu kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp xâm lược, ngày 16/8/1947, đồng chí Lê Đông, Bí thư Tỉnh ủy triệu tập Hội nghị Tỉnh ủy tại xóm Khị, xã Nhân Nghĩa, huyện Lạc Sơn để kiểm điểm tình hình hoạt động của các ngành, các địa phương, về phát triển đảng viên mới và phong trào dân quân du kích trên các xã, tuyến đường huyết mạch; Hội nghị quyết định thành lập Tỉnh đội dân quân Hòa Bình.

Sau Hội nghị Tỉnh ủy, cơ cấu tổ chức Tỉnh đội dân quân bước đầu được hình thành. Đồng chí Vũ Hoàng Diệp giữ chức Tỉnh đội trưởng, đồng chí Lê Thi giữ chức Chính trị viên[4]. Tỉnh đội dân quân Hòa Bình đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Tỉnh ủy, chịu sự chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Chiến khu 2. Tỉnh đội dân quân có nhiệm vụ chỉ huy LLVT địa phương thực hiện nhiệm vụ quân sự, chiến đấu và tham gia vào các nhiệm vụ kháng chiến của địa phương...

Sau khi thành lập Tỉnh đội dân quân, từ tháng 9 đến tháng 12/1947, Ban chỉ huy huyện và xã đội dân quân được xây dựng; lực lượng dân quân du kích cũng hình thành và phát triển nhanh, rộng khắp. Đến cuối năm 1947, toàn tỉnh xây dựng được 10 trung đội du kích tập trung của tỉnh và huyện, với 2.764 đội viên. Nhiều xã tổ chức ra các đơn vị du kích tập trung với số lượng lên tới trên 1.000 người. Ban chỉ huy quân sự các cấp làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương về công tác quân sự, tổ chức quản lý huấn luyện và chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương thực hiện nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ chính quyền cơ sở.

Ngày 15/4/1947, thực dân Pháp mở đợt tấn công đánh chiếm Hoà Bình lần thứ nhất. Sau 45 ngày (từ 15/4 đến 30/5/1947), chúng đã chốt giữ được Phương Lâm (thị xã Hoà Bình), Chợ Bờ (Châu Mai Đà, nay thuộc huyện Đà Bắc), Suối Rút, Vạn Mai, Bản Nghẹ, Đồng Uống, Chiềng Sại, Bao La, Mó Hém (Châu Mai Đà, nay thuộc huyện Mai Châu), hình thành hành lang phía tây, đồng thời gấp rút xây dựng hành lang Đông - Tây, bắt lính, thực hiện thủ đoạn chính trị lập "Xứ Mường tự trị" để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc chống Pháp. Đến cuối năm 1948, thực dân Pháp đã chiếm đóng 2/3 diện tích tỉnh Hòa Bình.

Trước tình hình đó, phong trào chống Pháp trong tỉnh được đẩy mạnh, phát triển chiến tranh du kích, diệt tề… Nhiều đội du kích lập công xuất sắc như: đội du kích Yên Lương, Phú Lẫm (nay là xã Phú Lương - huyện Lạc Sơn) đã lập công xuất sắc ngày 30/10/1948, tiêu diệt và làm mất sức chiến đấu nhiều tên địch bằng rượu cần lá Ngón; dân quân du kích Cộng Hoà - Lạc Sơn có 60 đội viên, đã tổ chức tiêu diệt lính Âu Phi, thu được súng tiểu liên.

Thu - Đông năm 1949, Liên khu III quyết định mở chiến dịch Lê Lợi ở Hoà Bình, nhằm tiêu diệt một phần sinh lực địch, giải phóng đất đai, phá âm mưu lập "Xứ Mường tự trị" của Pháp, tạo điều kiện cho chiến tranh du kích và trưởng thành của bộ đội địa phương. Chiến dịch Lê Lợi mở màn ngày 25/11/1949, du kích các địa phương đã phối hợp với bộ đội chủ lực thực hiện vây đồn, diệt viện, tiến công hàng loạt vị trí của địch tại mặt trận đường 6, như: Đồng Bến, Gò Bùi và thị xã Hoà Bình; tại mặt trận đường 12A, ta đánh các đồn Vụ Bản, Chiềng Vang, đồn Riệc; mặt trận sông Đà gồm các vị trí Mó Hém, Suối Rút, Chợ Bờ mà địch chốt giữ. Kết quả ta tiêu diệt 10 đồn, bức rút 13 đồn, diệt 876 tên địch, phá 37 xe vận tải, 4 xe gíp, giải phóng một khu vực rộng 2.000 km2, phá vỡ một đoạn dài 50 km hành lang Đông - Tây của địch. Toàn bộ vùng Mai Châu, Đà Bắc, đường 15 và một phần huyện Lạc Sơn (nay thuộc huyện Tân Lạc) được giải phóng. Dọc theo đường 12A, ta cô lập Vụ Bản, Chiềng Vang, Cao Phong, tạo thế uy hiếp quân địch ở Thị xã Hòa Bình. Quân địch bị thất bại nặng nề và lần lượt rút khỏi các vị trí ở Hoà Bình. Ngày 8/11/1950, Hoà Bình được giải phóng lần thứ nhất. Tháng 11/1950, Bác Hồ gửi thư khen chiến sĩ và cán bộ Hòa Bình: “Các chú đã đánh bật địch ra khỏi Hòa Bình. Bác vui lòng thay mặt chính phủ khen ngợi các chú”…

Không từ bỏ âm mưu đánh chiến Hoà Bình, thực dân Pháp lại tập trung lực lượng đánh chiến Hoà Bình lần thứ hai bằng 2 cuộc hành quân “Tuy - Líp” và “Lô - Tuýt”, nhằm nối lại hành lang Đông - Tây, lập lại “Tam giác sắt”: Hà Nội - Sơn Tây - Hòa Bình. Từ ngày 9 đến 14/11/1951, địch đánh chiếm được các mục tiêu, xây dựng 20 cụm cứ điểm theo dọc đường 21 từ Xuân Mai đến Chợ Bến và từ Ba Thá vào Miếu Môn, hình thành 2 tuyến phòng thủ đường 21, đường 6 và nối lại hành lang Đông - Tây.

Do yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và đặc điểm cụ thể của tỉnh Hòa Bình, ngày 15/2/1951, thực hiện Quyết định số 1128/TCH của Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, Tỉnh đội Hoà Bình giải thể, chuyển sàng thành lập Trung đoàn 12, vừa đảm nhiệm chức năng tham mưu cho Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh về công tác quân sự, vừa trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang tỉnh tác chiến, chiến đấu. Ban Chỉ huy Tỉnh đội được điều chỉnh trở thành cơ quan Trung đoàn, do đồng chí Võ An Khang giữ chức Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Đình Khanh - Chính trị viên, đồng chí Đinh Công Niết - Trung đoàn phó, đồng chí Lê Văn Long - Tham mưu trưởng. Trung đoàn 12 gồm có Tiểu đoàn 616 tập trung gồm 5 đại đội địa phương của các huyện: c121 (Lương Sơn), c112 (Lạc Sơn), c116 (Mai Đà), c16 (Kỳ Sơn); Đại đội 39 trợ chiến và Đại đội 100 cảnh vệ, là những đơn cơ động chiến đấu. Các xã đội, bộ đội địa phương, dân quân du kích trên địa bàn chịu sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Ban Tỉnh uỷ, cấp uỷ của các địa phương và sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Chỉ huy Trung đoàn 12.

Ngày 24/11/1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị: “Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch”. Trước khi bước vào chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích: ...“Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta”... Chiến dịch Hòa Bình được thực hiện đánh địch trên cả 2 mặt trận chính diện và sau lưng địch[5]. Tổng Quân ủy và Bộ tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ đạo chiến dịch, Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Chiến dịch Hoà Bình được thực hiện bằng 2 đợt tiến công của quân và dân ta.

Đợt 1: Ngày 10/12/1951, tại mặt trận chính, LLVT và nhân dân Hòa Bình đã phối hợp với 3 Đại đoàn quân chủ lực 308, 304 và 312 tiến công 2 cụm quân chủ yếu của địch đóng ở Phân khu thị xã Hòa Bình và Phân khu sông Đà. Đại đội 16 (Kỳ Sơn), Đại đội 116 (Mai Đà) và du kích các xã Yên Mông, Hòa Bình tiến công Phân khu sông Đà, bí mật bố trí trận địa phục kích liên hoàn trên sông Đà từ xóm Mỵ (Yên Mông) đến Lạc Song (Phú Thọ), dài 6km, tiêu diệt 6 ca nô và 1 tàu chiến (LCT) cùng hàng trăm tên địch, góp phần cùng với các Đại đoàn 308, 312 và Đại đội pháo binh 786 cơ bản đập nát phòng tuyến trên sông Đà của địch.

Tiểu đoàn 616 của tỉnh phối hợp du kích xóm Chăm (xã Quỳnh Lâm) tiến công Phân khu thị xã, trận phục kích dốc Cun, phá huy 1 xe, tiêu diệt hàng chục tên địch, bẻ gãy cuộc tấn công của địch vào đường 12A; du kích xã Mông Hóa phối hợp với  Trung đoàn chủ lực 36 (Sư đoàn 308), phục kích địch tại cầu Mè, phá huy 34 xe địch, tiêu diệt nhiều địch; Tiểu đoàn 616 địa phương, Đại đội 16 (Kỳ Sơn) và du kích xóm Dụ (Mông Hóa) phối hợp với Tiểu đoàn 375 (Trung đoàn 66 - Đại đoàn 308) chặn địch ở dốc Kẽm, diệt 2 trung đội địch, phá hỏng 11 xe vận tải, giải thoát cho trên 100 đồng bào bị bắt đi phu; ngày 13/12/1951, bộ đội tỉnh phối hợp với Tiểu đoàn 353 (Trung đoàn 9 - Đại đoàn 304) đánh trận Giang Mỗ (xã Bình Thanh  huyện Kỳ Sơn) tiêu diệt và bắt sống hơn 1 Đại đội Âu - Phi, phá huy 5 xe cơ giới, 1 xe tăng. Trong trận này nổi lên tấm gương dũng cảm chiến đấu của anh hùng Cù Chính Lan.

Ngày 10/12/1951, Hồ Chủ tịch gửi thư khen các chiến sĩ trong chiến dịch Hòa Bình: “Bác rất vui lòng nhận được báo cáo thắng trận của các chú...Bác thân ái gửi lời khen các chú... Bác sẽ có giải thưởng cho chú nào và đơn vị nào lập công nhiều nhất”.

Đợt 2: Từ 27 đến 31/12/1951, thực hiện phương châm tác chiến của chiến dịch là: đánh điểm diệt viện, thực hiện liên tục chiến đấu, kiên quyết tích cực kiềm chế và diệt pháo địch. Các đơn vị bộ đội địa phương phối hợp với du kích và các đơn vị chủ lực Đại đoàn 304 tổ chức một số trận đánh cứ điểm trên đường 6 góp phần giữ vững được tuyến hành lang vận chuyển qua sông Đà, uy hiếp các trận địa của địch trên tuyến quốc lộ 6.

Đợt 3: Từ 7/1/1952 đến 25/2/1952, ta tập trung lực lượng vây đánh địch ở thị xã Hòa Bình và trên đường số 6A. Đêm 7/1/1952, du kích Quỳnh Lâm dẫn đường cho Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) tiến công đồn Pheo, Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) tập kích thị xã Hòa Bình, diệt các vị trí ngoại vi, ta hạ 6 đồn, tiêu diệt cụm pháo gồm 4 khẩu 105 ly, bắt sống 20 tên địch, trong đó có tên quan 3 chỉ huy.

Trước những đòn tiến  công mạnh mẽ của ta trên các hướng của chiến dịch, đường vận chuyển trên sông Đà và đường 6 bị ngừng trệ, quân địch ở Hòa Bình bị cô lập. Ngày 8/1/1952, địch phải rút toàn bộ lực lượng chốt ven sông Đà về tăng cường phòng thủ cho khu vực thị xã. Những ngày tiếp theo, các đơn vị bộ đội địa phương phối hợp và độc lập tác chiến diệt và bắt sống 100 tên đi càn trú đóng tại điểm cao 585; bẻ gãy cuộc càn quét lên Chợ Bờ; cắt hàng nghìn mét dây điện thoại địch ở đường 21; vận động hơn 50 binh lính địch mang vũ khí ra đầu hàng. Thế trận chiến tranh nhân dân lên cao, đẩy thực dân Pháp vào thế bị động, lúng túng ở mặt trận Hòa Bình, ngày 23/2/1952, địch buộc phải rút chạy, Thị xã Hòa Bình được giải phóng.

Sau hơn 3 tháng anh dũng chiến đấu khó khăn, gian khổ, hy sinh, chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi. Quân và dân trong tỉnh phối hợp, hiệp đồng với bộ đội chủ lực tiêu hao, tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực địch: 6.012 tên bị tiêu diệt, phá huy 156 xe các loại, 17 tàu chiến, ca nô, 12 khẩu đại bác; ta thu trên 800 khẩu súng, có 24 khẩu pháo cỡ lớn, 88 máy vô tuyến điện, 10 tấn đạn và 23.000 lít xăng dầu. Hoà Bình được giải phóng đã giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của Pháp.

Chiến công trong chiến dịch Hoà Bình là thành tích nổi bật nhất của Đảng bộ, quân và dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Nhân dân được sống trong tự do, càng thêm tin tưởng vào tương lai, cùng quân và dân cả nước làm nên thắng lợi của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

III. XÂY DỰNG LLVT VỮNG MẠNH, HOÀN THÀNH XUẤT SẮC NHIỆM VỤ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 - 1975).

1. LLVT tỉnh củng cố tổ chức, xây dựng thế trận phòng không nhân dân và tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh (1954 - 1964).

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta kết thúc thắng lợi. Hiệp định Giơ - ne - vơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm thời dưới ách thống trị của kẻ thù, vĩ tuyến 17 tạm thời là giới tuyến giữa 2 miền Nam - Bắc.

Do yêu cầu nhiệm vụ mới, tháng 6/1954, thực hiện chỉ thị của Liên khu ủy và Bộ Tư lênh Liên khu 3. Tỉnh đội Hòa Bình được thành lập trên cơ sở tách ra từ Trung đoàn 12. Ban Chỉ huy Tỉnh đội gồm 3 đồng chí: Nguyễn Văn Chí - Tỉnh đội trưởng, Đặng Xuân Dung - Chính trị viên và Nguyễn Văn Đắc - Tỉnh đội phó. Các Huyện - Thị đội, Xã đội cũng được kiện toàn. Mỗi huyện, thị xã thành lập một Trung đội bộ đội địa phương, lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên được xây dựng mang tính chất rộng khắp và được huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị đáp ứng yêu cầu tác chiến, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của dân quân tự vệ. Các cấp, các ngành, đoàn thể địa phương xác định rõ trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời chiến. Đến 1957, hầu hết các thôn xóm, bản làng có trung đội, tiểu đội dân quân, nhiều xã đã có đại đội dân quân, được huấn luyện giỏi về chiến thuật, nắm chắc về kỹ thuật, thông suốt về tư tưởng chính trị, nắm vững đường lối quân sự của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới.

Tháng 2/1962, Ban Chỉ huy Tỉnh đội phối hợp với lực lượng công an vũ trang nhân dân tổ chức lực lượng bắt gọn toán biệt kích gồm 5 tên nhảy dù xuống khu vực đồi Bục, đồi Chùa  thuộc địa phận xã Tử Nê, huyện Tân Lạc. Đây là thắng lợi đầu tiên của quân và dân Hoà Bình, làm thất bại một bước âm mưu tung gián điệp, biệt kích bắt liên lạc với bọn phản động địa phương, nhằm phá hoại miền Bắc của Đế quốc Mỹ.

Nắm vững tình hình và chuẩn bị đối phó với âm mưu tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ; thực hiện Nghị định 112 về tổ chức công tác phòng không nhân dân của Chính phủ, Chỉ thị 157 của Bộ Quốc phòng về công tác phòng không và Mệnh lệnh số 372 của Bộ Quốc phòng về việc bắn máy bay địch, Ủy ban hành chính tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo thành lập các ban phòng không nhân dân từ tỉnh đến xã, với phương châm mỗi làng bản là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ.

Đến tháng 8/1964, Tỉnh đội thành lập Đại đội 121 súng máy cao xạ 12,7 mm, do đồng chí Nguyễn Văn Cư và Bùi Đức Kiên chỉ huy. Tỉnh đội, các Huyện - Thị đội thành lập các phân đội pháo binh, đội súng máy cao xạ, tổ bắn máy bay bằng súng bộ binh, tổ công binh nhân dân để sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống địch bắn phá. Các phân đội thông tin, vận tải, trinh sát, quân báo, cứu thương, cứu sập, cứu hỏa, bảo đảm giao thông... được củng cố, kiện toàn và huấn luyện bổ sung. Dân quân các xã đều thành lập tổ bắn máy bay, với 40.472 đội viên, bằng 11,9% dân số, nhiều tổ được trang bị súng máy cao xạ 12,7 mm, phối hợp với bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực hình thành lưới lửa phòng không tầm thấp, sẵn sàng đáp trả các đợt phá hoạt của giặc Mỹ xâm lược.

Trong giai đoạn này, lực lượng bộ đội chủ lực của tỉnh và bộ đội địa phương huyện, thị xã còn tham gia hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở chính trị vùng đồng bào dân tộc, tham gia công tác cải cách dân chủ và cùng nhân dân xây dựng các công trình thủy lợi, chống hạn, chống úng, phòng chống lụt bão, trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm nghiệp... LLVT tỉnh thực sự là công cụ, chỗ dựa tin cậy của cấp ủy và chính quyền ở địa phương.

2. LLVT và nhân dân tỉnh Hòa Bình kiên cường chiến đấu, cùng nhân dân cả nước đánh thắng chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, chi viện cho chiến trường, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 1965 - 1975.

Tháng 2/1965, giặc Mỹ phát động chiến tranh đánh phá toàn Miền Bắc.

Đợt 1: Mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ trên địa bàn tỉnh, ngày 3/5/1965 chúng ném bom quốc lộ 12A, thuộc địa phận xã Lạc Lương, huyện Yên Thuỷ. Tiếp sau đó, các trục đường 6A, 12A, 15A, khu vực thị xã Hòa Bình, bến phà Bờ, suối rút, thị trấn vụ bản, các kho tàng trở thành những trọng điểm bị máy bay Mỹ đánh  phá rất ác liệt. Phong trào bắn máy bay bay thấp được các nơi sôi nổi hưởng ứng tham gia.

Ngày 31/5/1965, dân quân xã Liên Hòa - Lạc Sơn đã bắn rơi máy bay phản lực F4H của Mỹ bằng súng trường, mở đầu cho phong trào bắn máy bay Mỹ bằng súng bộ binh trong toàn Quân khu 3.

Những tháng đầu năm 1966, máy bay địch liên tục đánh phá các địa phương trong tỉnh, nhất là khu vực xã Thịnh Lang - Kỳ Sơn, Vạn Mai - Mai Châu, thị trấn Vụ Bản - Lạc Sơn và thị xã Hòa Bình. Với thế trận phòng không nhân dân và tinh thần chủ động chiến đấu, ngày 29/4/1966, dân quân xã Trung thành - Đà Bắc bí mật phục kích trên đồi cao, đón lõng bắn rơi 1 máy bay F101 của Mỹ bằng súng trường. Chiến công này càng thôi thúc tinh thần chủ động bắn rơi máy bay địch của các LLVT trong tỉnh.

Ngày 20/7/1966, bằng 2 loạt đạn súng trường, dân quân xã Thu Phong (huyện Kỳ Sơn) đã hạ được 1 máy bay F105. Chiều ngày 30/4/1967, tại Hoà Bình, cuộc chiến đấu giữa không quân ta và không quân địch diễn ra quyết liệt. Khi chiếc phản lực F105 của Mỹ hạ độ cao xuống thấp để tránh tầm bắn có hiệu quả của không quân ta, chớp thời cơ, các tay súng của trung đội dân quân xã Mường Chiềng - Đà Bắc phục sẵn trên núi liền nhả đạn, chiếc máy bay trúng đạn, bốc cháy.

Để chủ động ngăn chặn máy bay Mỹ, dân quân tự vệ các huyện Kỳ Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy, Lương Sơn và thị xã Hòa Bình, bộ đội thường trực của tỉnh ngày đêm kiên trì mai phục trên các điểm cao. Tuy chưa bắn rơi máy bay địch, nhưng đã làm hạn chế hiệu xuất ném bom, bắn phá của địch.

Đợt 2. Để cứu vãn Chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” khỏi bị phá sản, ngày 16/4/1972, đế quốc Mỹ lại sử dung không quân đánh phá Miền Bắc. Tỉnh Hoà Bình vẫn là trọng điểm đánh phá của không quân Mỹ. Trong 240 ngày đêm (Từ 16/4/1972 đến 29/12/1972), chúng đã huy động hàng nghìn lượt chiếc máy bay đánh phá vào 57 xã và các trục đường giao thông trên toàn tỉnh, làm hàng trăm người chết, hàng trăm nhà dân và nhiều cơ sở kinh tế, văn hoá bị phá huỷ.

Với tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, quân và dân tỉnh Hoà Bình đã phối hợp tốt với bộ đội chủ lực, chủ động đón đánh và liên tiếp đánh bại không quân Mỹ. Những ngày đầu tháng 5/1972, dân quân 2 xã Lũng Vân và Bắc Sơn, huyện Tân Lạc đã dũng cảm đánh trả máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái, thu toàn bộ vũ khí trang bị. Ngày 21/8/1972, dân quân xã Lạc Long - Lạc Thuỷ kiên trì phục kích địch, bắn rơi 1 máy bay không người lái của giặc Mỹ. Trong 12 ngày đêm từ 18 đến 29/12/1972, chia lửa với quân dân Thủ đô Hà Nội, quân dân Hoà Bình liên tiếp lập chiến công giòn giã bắn rơi 3 máy bay Mỹ, bắt sống 5 giặc lái. Điển hình là trận chiến đấu tại Đồi Bù của dân quân xã Hợp Hoà, huyện Lương Sơn, trải qua 8 đêm liên tục trong điều kiện địa hình phức tạp, thời tiết khắc nghiệt, lực lượng dân quân dưới sự chỉ huy của Bộ CHQS tỉnh và Ban CHQS huyện đã kiên cường, dũng cảm bám sát vòng vây, đánh trả quyết liệt bắn rơi 01 máy bay H53 của Mỹ.

LLVT và nhân dân tỉnh Hòa Bình vừa chiến đấu, vừa xây dựng và củng cố lực lượng. Thực hiện Nghị quyết 61 về công tác quân sự địa phương tại các ngành, các đơn vị cơ sở, ngày 12/10/1970, Tỉnh đội bắt đầu thống nhất tên gọi là Bộ CHQS tỉnh. Quân khu ủy bổ nhiệm đồng chí Bạch Bá Năng giữ chức Chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Hữu ích - Chính ủy Bộ CHQS tỉnh. Tổ chức biên chế Bộ CHQS tỉnh có các Phòng Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh, 4 đại đội binh chủng thông tin, trinh sát, công binh, kho tàng và bênh xá... trực thuộc. Cùng với việc kiện toàn Tỉnh đội, các huyên, thị đội cũng được thống nhất gọi là Ban CHQS huyện, thị xã. Bộ CHQS tỉnh, Ban CHQS các huyện, thị xã làm tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác quân sự, quốc phòng địa phương, đồng thời trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy LLVT thuộc quyền xây dựng, chiến đấu và công tác, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Công tác tuyển quân chi viện cho chiến trường đảm bảo chất lượng và vượt chỉ tiêu. Năm 1970 vượt 3.5%, đợt 1 năm 1971 đạt 107,4%, đợt 2 năm 1971 đạt 107.77% kế hoạch, tiến hành giao quân nhanh, gọn. Kết quả tuyển quân đã được Chính phủ biểu dương về thành tích động viên tuyển quân 6 tháng đầu năm 1971; đồng thời có ý nghĩa chính trị to lớn, mở đầu cho công tác động viên, tuyển quân sau này.

Với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, trong 2 năm 1973, 1974, Hòa Bình tiếp tục hoàn thành vượt mức nhiệm vụ động viên tuyển quân, trung bình mỗi năm có gần 3.000 thanh niên nam, nữ nhập ngũ, lên đường  vào miền Nam chiến đấu. Tháng 3/1975, có 553 thanh niên các dân tộc lên đường nhập ngũ. Hòa Bình là 1 trong 6 tỉnh ở phía Bắc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân, năm 1975 có 10 huyện, thị xã được Bộ Tư lênh Quân khu tặng cờ thi đua “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân năm 1975”.

IV. LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH HÒA BÌNH HỢP NHẤT VỚI LLVT TỈNH HÀ TÂY, THỰC HIỆN TỐT NHIỆM VỤ KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC XHCN (1976 - 1991).

Đất nước được hoàn toàn thống nhất, trên địa bàn tỉnh đời sống của nhân dân còn nghèo, hậu quả chiến tranh để lại vô cùng nặng nề. Từ yêu cầu nhiệm vụ cách mạng mới, ngày 16/1/1976, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 23 về việc hợp nhất Bộ CHQS tỉnh Hà Tây và Bộ CHQS tỉnh Hòa Bình thành Bộ CHQS tỉnh Hà Sơn Bình. Đồng chí Lê Hiền Hữu giữ chức Chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Ngọc Diệp - Chính ủy, đồng chí Nguyễn Văn Chí - Chỉ huy phó, Đồng chí Lê Thanh Quang - Chỉ huy phó quân sự.

Từ tháng 5/1975 đến tháng 12/1986, LLVT tỉnh tập trung thực hiện nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng LLVT, chi viện mặt trận biên giới Tây - Nam và biên giới phía Bắc.

Thực hiện Nghị quyết số 250 ngày 17/3/1976 của Bộ Chính trị về lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng kinh tế. Bộ CHQS tỉnh chỉ đạo điều chỉnh tổ chức biên chế, chuyển các Trung đoàn 12, 587, 541 và 588 sang chuyên xây dựng kinh tế, nhiệm vụ chủ yếu là phát triển nông nghiệp, nghề rừng, nghề cá, làm được giao thông, nhận thầu một số công trình thuỷ lợi: công nghiệp dân dụng trên quy mô lớn, đẩy mạnh tăng gia tự túc một phần lương thực, thực phẩm.

Năm 1977 và 1978, đất nước bị tấn công xâm lược ở biên giới Tây Nam, ở biên giới phía Bắc tình hình diễn biến rất phức tạp. Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Quân khu về chi viện cho mặt trận biên giới Tây Nam, Bộ CHQS tỉnh đã chỉ đạo các Trung đoàn 814, 52, 854 và 169 nhận lệnh động viên 10,683 tân binh lên đường đúng thời gian quy định, kịp thời chi viện cho các đơn vị chiến đấu ở Tây Ninh, sông Bé, An Giang và một số tỉnh ở Tây Nguyên.

Năm 1979, toàn tỉnh tuyển chọn 22.916 thanh niên nam, nữ nhập ngũ. Bàn giao Trung đoàn 514 cho Sư đoàn 326 Quân khu 2 tham gia chiến đấu tại Pa Tần, tỉnh lai Châu; giao Trung đoàn 169 cho tỉnh Cao Bằng; giao phần lớn cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 87 tăng cường cho hướng Tây Bắc với tổng quân số là 6.780 đồng chí.

Năm 1980 - 1986, tình hình biên giới phía Bắc tiếp tục diễn biến căng thẳng, LLVT và nhân dân xây dựng, củng cố hệ thống phòng thủ tỉnh. Tập trung xây dựng làng xã, cụm chiến đấu liên hoàn, xây dựng pháo đài quân sự huyện vững chắc. Sẵn sàng chiến đấu khi có tình huống.

V. PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ANH HÙNG, LLVT TỈNH HOÀN THÀNH XUẤT SẮC NHIỆM VỤ QUÂN SỰ, QUỐC PHÒNG ĐỊA PHƯƠNG (1991 - 2017).

Tháng 9 năm 1991 Quốc hội quyết định tách tỉnh Hà Sơn Bình thành 2 tỉnh Hà Tây và Hòa Bình. Thực hiện quyết định của Bộ Quốc phòng, tháng 9/1991, Bộ CHQS tỉnh chính thức được tái lập, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của Tỉnh ủy Hòa Bình. Đồng chí Bùi Thanh Điếm được bổ nhiệm giữ chức Chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Kiều Bào giữ chức Phó Chỉ huy trưởng về Chính trị; đồng chí Nguyễn Địa Chất - Phó Chỉ huy trưởng - Tham mưu trưởng; đồng chí Bùi Thế Lực giữ chức Phó Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh.

Phát huy truyền thống vẻ vang của địa phương, của LLVT tỉnh trong các giai đoạn cách mạng trước đây; quán triệt sâu sắc đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Bộ Tư lênh Quân khu 3, trực tiếp là của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, LLVT ba thứ quân của tỉnh Hòa Bình tiếp tục được củng cố, xây dựng và phát triển, ngày càng đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ. Lực lượng thường trực gồm Bộ CHQS tỉnh, Ban CHQS các huyện, thành phố và các đơn vị trực thuộc được biên chế theo quy định, xây dựng theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng theo hướng rộng khắp, ở đâu có nhân dân, có tổ chức đảng là ở đó có dân quân, tự vệ, khẳng định là lực lượng đông đảo, chủ lực trong xây dựng nền quốc phòng - quân sự địa phương. Lực lượng dự bị động viên được đăng ký, quản lý, phúc tra, kiểm tra chặt chẽ, thường xuyên được bổ xung, được sắp xếp vào các đơn vị Dự bị động viên, tỷ lệ đúng với chuyên nghiệp quân sự, chất lượng ngày càng cao. Quá trình thực hiện nhiệm vụ từ khi tái lập tỉnh đến nay đạt được kết quả toàn diện, trong đó có nhiều nhiệm vụ nổi bật. Cụ thể:

- Thực hiện tốt nhiệm vụ làm tham mưu cho cấp ủy và chính quyền địa phương kịp thời có chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, xây dựng tỉnh Hòa Bình và các huyện, thành phố thành khu vực phòng thủ (KVPT) ngày càng vững chắc, trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong tỉnh nhiều năm qua, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.

- Công tác giáo dục QP - AN cho các tầng lớp nhân dân được thực hiện tích cực, thường xuyên, hiệu quả. Công tác bồi dưỡng kiến thức QP-AN cho các đối tượng cán bộ, đảng viên ngày càng nề nếp, đúng theo chủ trương của Đảng và Nghị quyết của Chính phủ, 100% cán bộ, đảng viên thuộc các đối tượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng của các nhiệm kỳ (Đại hội Đảng, HĐND, UBND các cấp) được bồi dưỡng, 100% các nhà trường trung học phổ thông, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề trên địa bàn tỉnh được học chương trình giáo dục QP - AN theo quy định, chất lượng học tập ngày càng được nâng lên. Do thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức QP - AN, đã tạo được sự đồng thuận, thống nhất cao trong các tầng lớp nhân dân về nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; hiệu lực lãnh đạo, năng lực quản lý, chức năng làm tham mưu về QP - AN của cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể được nâng lên, góp phần phòng chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.

- Luôn duy trì nghiêm chế độ SSCĐ, sẵn sàng phòng chống lụt bão, phòng chống cháy rừng, tìm kiếm cứu nạn… góp phần bảo vệ an toàn tuyệt đối trong các dịp diễn ra các sự kiện chính trị lớn của địa phương như: Đại hội Đảng các cấp; bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, các ngày kỷ niệm lớn của Đảng, của đất nước và của địa phương, các dịp lễ, tết… Bên cạnh đó, LLVT tỉnh luôn khẳng định là lực lượng nòng cốt đi đầu trong phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn. Tiêu biểu như: huy động lực lượng giúp 130 hộ dân thuộc 2 xã Tân Mai, Phúc Sạn, huyện Mai Châu di rời khỏi khu vực có nguy cơ sạt lở đến nơi ở mới; phối hợp với các lực lượng xử lý kịp thời sự cố sạt lở đất, đá ở trên quốc lộ 6, thuộc địa phận xã Đồng Bảng, huyện Mai Châu, nhanh chóng tìm kiếm được người bị nạn, giải phóng khoảng 200 mét đường bị vùi lấp; chỉ đạo các lực lượng tham gia có hiệu quả việc chữa cháy rừng tại xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy và chống vỡ đập hồ Vưng tại xã Đông Lai, huyện Tân Lạc… bảo đảm an toàn tuyệt đối.

- Công tác huấn luyện thường xuyên được đổi mới toàn diện. Quán triệt và thực hiện tốt phương châm “Cơ bản - thiết thực - vững chắc” ; coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, theo nhiệm vụ, sát với đối tượng, địa bàn tác chiến, khu vực phòng thủ; trong điều kiện địch sử dụng vũ khí công nghệ cao. Huấn luyện cho LLVT của tỉnh sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị có trong biên chế và các loại vũ khí, trang bị mới, khi được tăng cường; cơ động lực lượng, phương tiện linh hoạt; giỏi tác chiến độc lập, nâng cao khả năng tác chiến khi được tăng cường binh khí kỹ thuật, hiệp đồng binh chủng, tác chiến trong KVPT. Bảo đảm cho SSCĐ và chiến đấu thắng lợi trên mọi quy mô, trong mọi tình huống. Kết quả huấn luyện hằng năm 100% đạt yêu cầu, có 75% trở lên khá giỏi.

- Từ khi tái lập tỉnh (10/1991) đến nay, đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo và tổ chức hàng trăm cuộc diễn tập khu vực phòng thủ (KVPT) tỉnh, huyện; diễn tập bảo đảm của các sở, ban, ngành của tỉnh và diễn tập chiến đấu phòng thủ xã, phường, thị trấn. Trong diễn tập đã gắn với động viên toàn dân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng, vừa đạt mục đích QP - AN, vừa có tác dụng tích cực góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH theo hướng CNH - HĐH, nâng cao đời sông vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân.

- Phát huy truyền thống, phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", phối hợp với các cấp, các ngành và toàn dân đẩy mạnh phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, chính sách hậu phương quân đội, chính sách xã hội. Xây dựng quỹ “đền ơn đáp nghĩa”, phối hợp thăm, tặng quà cho đối tượng chính sách hàng năm; xây dựng được 53 nhà tình nghĩa, nhà đồng đội, nhà chính sách xã hội (năm 2017 đã phát động tổ chức xây dựng và bàn giao thêm 13 nhà); hoàn thành chi trả trợ cấp một lần cho (tính đến ) 37.463 đối tượng chính sách tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ theo các Quyết định 47 ngày 11/4/2002, Quyết định 290 ngày 08/11/2005, Quyết định 142 ngày 27/10/2008, Quyết định số 62 ngày 9/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ, với tổng số tiền trên 136,764 tỷ đồng và có 89 đồng chí được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng.

- Triển khai hiệu quả các đề tài, đề án tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh. Bộ CHQS tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan thành viên triển khai thực hiện Đề án số 03- ĐA/TU ngày 14/ 01/2010 của Tỉnh ủy Hòa Bình về "Củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phát triển KT-XH và đảm bảo QP-AN 2 xã Hang Kia, Pà Cò, huyện Mai Châu" đạt kết quả rất quan trọng. Hệ thống chính trị 02 xã được kiện toàn củng cố, hoạt động từng bước đi vào nề nếp; phát triển kinh tế được đẩy mạnh, kết cấu hạ tầng được ưu tiên đầu tư xây dựng; chất lượng giáo dục, công tác y tế phòng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được nâng lên; các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch nhằm giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mông được quan tâm; QP-AN được tăng cường, giải quyết cơ bản tồn tại về an ninh, ổn định chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, tạo được sự đồng thuận trong nhân dân. Triển khai thực hiện Đề án Xây Mô hình làng bản văn hoá - quốc phòng ở địa bàn đặc biệt khó khăn trong khu vực phòng thủ tỉnh đạt được kết quả thiết thực. Bộ CHQS tỉnh đã phối hợp chỉ đạo xây dựng thí điểm được 19 xóm, làng trên địa bàn tỉnh. Các xóm, làng văn hóa - quốc phòng cơ sở hạ tầng được nâng cấp; các công trình vệ sinh, chuồng trại, mương rãnh được xây dựng, cải tạo hợp vệ sinh; các quy định về đời sống văn hóa được bổ sung và đưa vào thực hiện; các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp được phát huy; hệ thống chính trị được củng cố, từng bước nâng cao chất lượng hoạt động; QP-AN được củng cố và tăng cường; thực hiện tốt vai trò nòng cốt vận động nhân dân thực hiện phong trào giữ gìn an ninh trật tự, cơ bản ngăn chặn được các hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan... Thực hiện Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh  đã có mô mình, cách làm sáng tạo như mô hình "Đồng hành cùng các em đến trường" đã quyên góp và tặng 470 xe đạp, 01 xe lăn, 18 quạt điện, 06 góc học tập tình thương, 100 cặp sách, 36 máy tính casio.... tổng trị giá trên 700 triệu đồng.

VI. THÀNH TÍCH VÀ TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA LLVT TỈNH

1. Một số thành tích tiêu biểu

- Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, LLVT tỉnh đã chiến đấu và phối hợp chiến đấu 1.780 trận; tiêu diệt và bắt 3.406 tên địch; phá hủy 18 khẩu trọng pháo, trung liên, đại liên; bắn cháy, bắn hòng 16 ca nô, tàu chiến, 51 xe vận tải; phá huy 3 kho quân trang, quân dụng; thu 529 súng các loại, 120.000 viên đạn... toàn tỉnh có 955 người con thuộc các dân tộc anh em tham gia quân đội, 1.169.000 lượt con em đi dân công, thanh niên xung phong phục vụ kháng chiến, tổng số 2.453.620 công, ủng hộ 878 con trâu bò, 41.013 kg thực phẩm, gần 600 tấn thóc, gạo, 280.000 đồng... cùng hàng chục triệu cây bương tre ... cho kháng chiến. 

- Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đặc biệt là 2 lần chống chiến tranh phá hoại, LLVT tỉnh đã chiến đấu và phối hợp chiến đấu 693 trận, bắn rơi 49 máy bay các loại của địch. Toàn tỉnh có 11.460 thanh niên gia nhập quân đội, 15.690 người đi thanh niên xung phong, đào 23.640 hầm hố phòng tránh, đào đắp 136 công sự trận địa, 162.000 tấn lương thực và 1.436 tấn thực phẩm.

Với những thành tích đặc biệt xuất xắc, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, tỉnh Hoà Bình và 10 huyện, thành phố, 62 xã phường, thị trấn được tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, phong tặng và truy tặng 235 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, 10 Anh hùng LLVT nhân dân và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Từ năm 1991 đến nay, nhiều năm liền Đảng bộ quân sự tỉnh đạt TSVM; đơn vị vững mạnh toàn diện; Chủ tịch nước tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Ba; 02 Huân Chương bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì, 01 hạng Ba; Thủ tướng Chính phủ tặng 3 Cờ thi đua xuất sắc; hàng trăm lượt tập thể, cá nhân được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 3 và UBND tỉnh Hoà Bình tặng Bằng khen.

2. Truyền thống vẻ vang của LLVT tỉnh

Là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, LLVT tỉnh Hòa Bình có chung truyền thống LLVT Việt Nam anh hùng. Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, LLVT tỉnh Hoà Bình đã viết nên truyền thống: “Đoàn kết, Sáng tạo, Hiệp đồng, Lập công, Chiến thắng”. Truyền thống đó được thể hiện ở những nét đặc trưng sau:

Một là, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng, với Tổ quốc Việt Nam  xã hội chủ nghĩa, với nguyện vọng chính đáng của nhân dân lao động, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội.

Hai là, có tinh thần quyết chiến, quyết thắng, càng chiến đấu, càng trưởng thành và chiến thắng vẻ vang.

Ba là, tinh thần dũng cảm mưu chí, sáng tạo khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng LLVT, xây dựng và bảo vệ quyên hương.

Bốn là, tinh thần đoàn kết nội bộ chặt chẽ, trên dưới một lòng, thống nhất ý chí và hành động. Đoàn kết máu thịt với nhân dân, luôn dựa chắc vào dân để chiến đấu và công tác, được nhân dân tin yêu, đùm bọc.

Năm là, tinh thần không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt, chủ động tiếp cận cái mới, cái tiến bộ, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ được nâng lên.

Sáu là, tinh thần tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Phần II

GIỮ VỮNG VÀ PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG 70 NĂM

XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH, LLVT TỈNH QUYẾT TÂM

HOÀN THÀNH TỐT MỌI NHIỆM VỤ ĐƯỢC GIAO

Tự hào về truyền thống vẻ vang trong 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Để giữ vững, tiếp tục phát huy hơn nữa, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; trong thời gian tới LLVT tỉnh cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau đây:

Một là, quán triệt và thực hiện có hiệu quả đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh. Đặc biệt Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị về Xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới và Nghị định 152 của Chính phủ về Khu vực phòng thủ; Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo Nghị quyết XII.

Hai là, Ra sức xây dựng LLVT tỉnh vững mạnh toàn diện, cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, lấy xây dựng bản lĩnh chính trị làm cơ sở xây dựng sức mạnh tổng hợp của LLVT tỉnh. Xây dựng lực lượng DQTV đảm bảo rộng khắp, thực sự là lực lượng nòng cốt giữ vững tình hình ở cơ sở. Quản lý chặt chẽ lực lượng DBĐV, tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện, đáp ứng yêu cầu động viên của tỉnh và quân đội.

Ba là, Tiếp tục bồi dưỡng cho bộ đội địa phương, DQTV, DBĐV có năng lực làm công tác vận động quần chúng. Nắm chắc tình hình diễn biến ở cơ sở, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thiết chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng củng cố ngày càng vững chắc “thế trận lòng dân”.

Bốn là, tổ chức các hoạt động của dân quân tự vệ trên cơ sở nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội ở từng địa phương; thể hiện chặt chẽ sự kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, quốc phòng với an ninh...

Năm là, chăm lo xây dựng các tổ chức Đảng quân sự trong sạch vững mạnh cơ quan quân sự các cấp vững mạnh toàn diện, trọng tâm là tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05-CT/TW của bộ Chính trị, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng và Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh bộ đội Cụ Hồ". Tham gia xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, thế trận lòng dân vững chắc cho nền quốc phòng toàn dân; đồng thời thực hiện tốt chính sách hậu phương quan đội, phong trào đền ơn đáp nghĩa, và chính sách xã hội.

Sáu là, làm tốt công tác giáo dục truyền thống trong nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, làm cho mỗi người dân Hòa Bình tự hào về truyền thống của ông cha ta, ra sức phấn đấu, tu dưỡng, kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang 70 năm qua của nhân dân và LLVT tỉnh Hòa Bình.

Chặng đường 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, với những cống hiến, hy sinh to lớn trong các giai đoạn cách mạng của các thế hệ cán bộ, chiến sỹ LLVT tỉnh đã liên tục phấn đấu viết nên truyền thống với mười chữ vàng: "Đoàn kết, sáng tạo, hiệp đồng, lập công, chiến thắng". Vinh dự và tự hào với chặng đường 70 năm qua, trước hết thuộc về các Anh hùng liệt sỹ, Mẹ Việt Nam anh hùng, các đồng chí thương binh, bệnh binh, gia định liệt sỹ, gia đình có công với nước và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Truyền thống đó là kết tinh sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của các cấp uỷ đảng, sự quản lý, điều hành có hiệu quả của các cấp chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các cấp, các ngành địa phương, các đơn vị quân đội, các doanh nghiệp đứng chân trên địa bàn và sự phấn đấu vươn lên liên tục, bền bỉ của cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh; là sức mạnh đại đoàn kết và sức mạnh tổng hợp của Nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình.

Kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Tỉnh đội, ngày truyền thống LLVT tỉnh Hòa Bình, tự hào ôn lại truyền thống vẻ vang Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình quyết tâm phấn đấu, thực hiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hoà Bình lần thứ XVI đề ra, xây dựng tỉnh Hòa Bình phát triển giàu mạnh và kiên cường cách mạng, xứng đáng với nền văn hoá Hoà Bình rực rỡ và Danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân./.


[1] Theo Kỷ yếu ảnh "Lực lượng vũ trang Nhân dân tỉnh Hòa Bình 60 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành (16/8/1947 - 16/8/2007)"

[2] Theo Kỷ yếu ảnh "Lực lượng vũ trang Nhân dân tỉnh Hòa Bình 60 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành (16/8/1947 - 16/8/2007)"

[3] Cách mạng tháng Tám thành công: Châu Lạc Sơn 20/8, Châu Lạc Thủy 22/8, Châu Kỳ Sơn và Thị xã Hòa Bình 23/8, Châu Mai Đà 25/8, Châu Lương Sơn 26/8/1945.

[4] Ngày 16/8/1947 là ngày Thành lập Tỉnh đội Hoà Bình - Ngày Truyền thống của LLVT Tỉnh Hoà Bình (Quyết định số: 2153/QĐ-BTL ngày 24 tháng 5 năm 2007 của Bộ Tư lệnh Quân khu 3).

[5] Mặt trận chính: Thị xã Hòa Bình, sông Đà, đường số 6, đường 21. Mặt trận sau lưng địch chủ yếu tạo điều kiện cho chiến tranh nhân dân ở các địa phương phát triển, đồng thời củng cố cơ sở chính trị trên các địa bàn lân cận. 

Biên tập: Quách Thị Hải Thanh

Kỹ thuật: Hồng Thắm