gioiitieuchung

lichsuvanhoa

dialyhanhchinh

dieukientunhien

TRUYENTHANH

TRUYENHINH

 cttdt

i 02

hoi dap

 timhieuphapluat

CUM CONG NGHIEP

22222222222

33333

43545454354

thudientu

Du lịch Lạc Thủy

img

616228
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
961
834
4940
560822
15935
21040
616228

Your IP: 54.81.76.247
2018-07-19 03:23

             Để thiết thực hưởng ứng Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn  năm 2017, ngày 27/9/2017, Uỷ ban nhân dân huyện ban hành Kế hoạch số 94/KH-UBND ngày 27/9/2017 yêu cầu các phòng, ban, ngành, đoàn thể của huyện, Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn tổ chức các hoạt động hưởng ứng chiến dịch.

            Chủ đề “Quản lý rác thải vì môi trường nông thôn bền vững” của Chiến dịch năm 2017 nhằm nhấn mạnh vai trò quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là công tác quản lý chất thải tại các khu vực nông thôn trong quá trình xây dựng một đất nước Việt Nam phát triển kinh tế, an sinh xã hội và hài hòa với thiên nhiên. Uỷ ban nhân dân huyện xây dựng kế hoạch với những nội dung hoạt động chung như sau:

1. Tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về công tác bảo vệ môi trường như: Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Luật bảo vệ môi trường năm 2014; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh Hòa Bình đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020,... đến đông đảo cán bộ và tầng lớp nhân dân trong huyện.

- Triển khai thực hiện các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường hiệu quả, hiệu lực của công tác quản lý Nhà nước về môi trường, giải quyết những vấn đề môi trường cấp bách được nêu trong Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

2. Các Cơ quan, Ban, Ngành, Đoàn thể, UBND các xã, thị trấn trong huyện căn cứ điều kiện thực tế để tổ chức các hoạt động cộng đồng như:

- Xác định và triển khai các nhiệm vụ trọng tâm nhằm giải quyết triệt để những điểm nóng về ô nhiễm môi trường của địa phương; Tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý triệt để các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất, các trang trại chăn nuôi có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; Lên án các hành động khai thác trái phép, phá hoại tài nguyên thiên nhiên; Khuyến khích các các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất, các trang trại chăn nuôi, cộng đồng và người dân tham gia xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, thực hiện trách nhiệm xã hội trong đó có trách nhiệm bảo vệ môi trường;

- Treo băng rôn, khẩu hiệu, panô, áp phích tuyên truyền về chủ đề môi trường tại khu vực công cộng, trụ sở cơ quan làm việc, các trường học, khu dân cư đông người;

- Ra quân làm vệ sinh môi trường: thu gom xử lý chất thải, rác thải sinh hoạt, rác thải chăn nuôi, rác thải đồng ruộng... Khơi thông dòng chảy và nạo vét kênh mương, cống rãnh, hệ thống thoát nước;

- Tăng cường công tác tuyên truyền sâu rộng tới toàn thể nhân dân trên địa bàn huyện để cùng tham gia thực hiện Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn năm 2017 như: Phổ biến các quy định của pháp luật, tổ chức các lớp học, lớp tận huấn về bảo vệ môi trường. Tăng thời lượng phát sóng về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường.

3. Phát hiện, biểu dương, khen thưởng để động viên kịp thời những cá nhân, tổ chức có nhiều thành tích trong bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

* Thông điệp hưởng ứng chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2017.

1. Quản lý rác thải  vì môi trường nông thôn bền vững.

2. Tăng cường các hoạt động quản lý rác thải khu vực nông thôn.

3. Vì một môi trường không có rác, hãy bỏ rác đúng nơi quy định.

4. Nhiệt liệt hưởng ứng Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn năm 2017.

     5. Rác là nguồn ô nhiễm môi trường, hãy làm sạch rác ở mọi nơi.

6. Quản lý rác thải khu vực nông thôn hiệu quả vì môi trường xanh, bền vững.

7. Nông thôn xanh, nông sản sạch cho cuộc sống bền vững.

     8. Hãy giữ vệ sinh, không vứt rác ra đường.

     9. Tất cả vì môi trường xanh - sạch - đẹp.

    10. Bảo vệ môi trường góp phần tích cực trong xây dựng nông thôn mới.

    11. Hãy giữ gìn vệ sinh, không vứt rác ra đường.

    12. Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới.

     13. Đường sạch, ngõ sạch, khuôn viên đẹp là mục tiêu xây dựng nông thôn mới.

     14. Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới.

    15. Trồng thêm một cây xanh là thêm một hành động vì môi trường.

     16. Bảo vệ môi trường, bảo vệ sự sống, bảo vệ sức khỏe con người.

     17. Bảo vệ môi trường, hãy bắt đầu ngay từ bây giờ.

     18. Trước khi chặt một cây, hãy trồng một rừng cây.

    19. Nước sạch và vệ sinh môi trường là nhu cầu của cuộc sống.

    

Biên tập: Quách Thị Hải Thanh

Kỹ thuật: Hồng Thắm

Cộng tác viên: Xuân Đạt

Để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội chủ động phòng ngừa và tích cực tham gia đấu tranh chống tội phạm mua bán người; tạo sự chuyển biến cơ bản về nhận thức, hành động trong toàn xã hội về phòng chống, mua bán người và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán.

Uỷ ban nhân dân huyện Lạc Thuỷ đề nghị các cơ quan đơn vị thực hiện một số nhiệm vụ như sau:

- Tập trung tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân về phòng, chống tội phạm; tiếp tục tuyên truyền các Nghị quyết, Chương trình, Kế hoạch của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về phòng, chống tội phạm, đặc biệt là Kết luận số 05-KL/TW ngày 15/7/2-16 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới.

- Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền công tác phòng, chống buôn bán người trên địa bàn huyện Lạc Thuỷ, trong đó chỉ rõ các phương thức, thủ đoạn hoạt động, nhận thức cho người dân; tăng cường đăng, phát các thông điệp về phòng, chống mua bán người thường xuyên liên tục và có hệ thống.

- Phát triển các chuyên trang, chuyên mục, tăng thời lượng phát sóng, tần suất thông tin về phòng, chống mua bán người, thông tin được cập nhật thường xuyên,  liên tục. Thông tin đăng tải cần phải được kiểm chứng, mang tính định hướng, tránh gây hoang mang trong nhân dân, ảnh hưởng an ninh trật tự trên địa bàn.

- Tuyên truyền và lồng ghép trong các buổi sinh hoạt chi bộ, khu dân cư, thôn, xóm kết hợp tuyên truyền trong các hoạt động trong phòng văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, phong trào thi đua và đa dạng hoá các loại hình tuyên truyền phù hợp với đặc điểm từng đơn vị.

- Tăng cường sử dụng đội ngũ tuyên truyền viên và hệ thống truyền thanh cơ sở của các xã, thị trấn đẩy mạnh tuyên truyền đến các vùng sâu, vừng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, dân trí thấp.

- Tích cực tuyên truyền thực hiện vận động, tư vấn, giúp đỡ nạn nhân bị mua bán trở về được tiếp cận các dịch vụ cơ bản, hoà nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống; phối hợp với các doanh nghiệp dạy nghề, giải quyết việc làm, lồng ghép các hoạt động tái hoà nhập của người bị mua bán trong các buổi sinh hoạt tập thể; tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân, các cấp, các ngành và toàn xã hội không phân biệt, kỳ thị; nội dung, hình thức thông tin, truyền thông giáo dục về tái hoà nhập cộng đồng phải phù hợp và được thực hiện bằng nhiều phương pháp, hình thức phong phú, đa dạng.

THÔNG BÁO

KẾT LUẬN CỦA PHÓ THỦ TƯỚNG THƯỜNG TRỰC CHÍNH PHỦ TRƯƠNG HÒA BÌNH, TRƯỞNG BAN CHỈ ĐẠO 138/CP TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM; PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2017 CỦA BAN CHỈ ĐẠO 138/CP

Ngày 26 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Chính phủ, đồng chí Trương Hòa Bình, ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo 138/CP đã chủ trì Hội nghị trực tuyến sơ kết công tác phòng, chống tội phạm; phòng, chống mua bán người 6 tháng đầu năm 2017 của Ban Chỉ đạo 138/CP. Tham dự Hội nghị có các đồng chí Thành viên Ban Chỉ đạo 138/CP, đại diện lãnh đạo Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia, Tổng cục Cảnh sát, các đơn vị liên quan thuộc Bộ Công an; Trưởng Ban Chỉ đạo và các Thành viên Ban Chỉ đạo phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội và xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Sau khi nghe lãnh đạo Bộ Công an - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 138/CP báo cáo tình hình, kết quả công tác phòng, chống tội phạm; phòng, chống mua bán người 6 tháng đầu năm 2017, nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2017 và ý kiến phát biểu của lãnh đạo một số Bộ, ngành, địa phương, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, Trưởng Ban Chỉ đạo 138/CP đã kết luận như sau:

I. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Tình hình và kết quả đạt được

- Trong 06 tháng qua, với sự nỗ lực, cố gắng của các ngành, các cấp, mà nòng cốt là lực lượng Công an và sự vào cuộc tích cực của báo chí, số vụ phạm pháp hình sự trên toàn quốc đã giảm 3,8% so với cùng kỳ năm 2016, nhưng tình hình tội phạm vẫn diễn biến rất phức tạp, nổi lên là:

+ Các thế lực thù địch và số đối tượng cực đoan trong tôn giáo lợi dụng quyền tự do, dân chủ gia tăng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước; tội phạm giết người tăng 3,98%, trong đó giết người do nguyên nhân xã hội chiếm 95%; tội phạm xâm hại trẻ em xảy ra ở nhiều nơi đang thách thức các chuẩn mực đạo đức và gây bức xúc trong xã hội. Tội phạm có tổ chức, nhất là các băng, nhóm tội phạm núp bóng doanh nghiệp hoạt động phạm tội gia tăng; nhiều băng, nhóm lưu manh, côn đồ càn quấy sử dụng vũ khí, hung khí nguy hiểm, vật liệu nổ thanh toán, trả thù, giải quyết mâu thuẫn, nhiều trường hợp hung thủ vào tận bệnh viện để truy sát nạn nhân, gây bất an trong xã hội. Tội phạm liên quan đến vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ tăng 21,2%; đang diễn ra tình trạng giao dịch, mua bán vũ khí, công cụ hỗ trợ công khai trên các trang mạng xã hội.

Tội phạm chống người thi hành công vụ với tính chất, mức độ ngày càng manh động, thậm chí tấn công cả trụ sở Công an, chính quyền, hủy hoại tài sản, gây rối an ninh, trật tự.

+ Tội phạm kinh tế, tham nhũng xảy ra ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực gây thiệt hại lớn về tài sản của Nhà nước. Tội phạm sử dụng công nghệ cao lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn ra phức tạp, đã phát hiện nhiều nhóm đối tượng thuê đường truyền tốc độ cao để điều hành các trang Web tổ chức đánh bạc với số tiền lớn. Hoạt động bán hàng đa cấp trên mạng Internet vi phạm pháp luật vẫn diễn ra với những cách thức, thủ đoạn mới tinh vi.

+ Tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường tăng 9,8%, vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn diễn ra phổ biến. Tình trạng khai thác, vận chuyển, mua bán khoáng sản trái phép, trong đó có cát, sỏi diễn ra phức tạp tại nhiều địa phương, có trường hợp đối tượng vi phạm đã đe dọa lãnh đạo chính quyền địa phương, gây bức xúc dư luận. Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, xử lý chất thải vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều nơi.

+ Tội phạm về ma túy vẫn diễn biến phức tạp trên các tuyến, địa bàn trọng điểm, tăng 13,81% số vụ và 13,48% số đối tượng so với cùng kỳ năm 2016; tình trạng người sử dụng ma túy tổng hợp diễn ra ở nhiều nơi; ma túy từ nước ngoài thẩm lậu vào nước ta rất lớn, đã phát hiện được một số vụ sản xuất ma túy tổng hợp ngay trong nước với số lượng rất lớn.

- Ban Chỉ đạo 138/CP và Ban Chỉ đạo 138 ở các địa phương đã chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống tội phạm; đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, chương trình, kế hoạch công tác; đã phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và các Bộ, ngành, đoàn thể ở trung ương và địa phương; các cơ quan thông tấn báo chí đã tham gia tích cực, có hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm với những cách làm sáng tạo, nổi bật là:

Đã chủ động nắm tình hình, kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước những chủ trương, chính sách về đảm bảo trật tự an toàn xã hội, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đã gắn kết công tác phòng, chống tội phạm với thực hiện các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội của từng Bộ, ngành, địa phương. Công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự được tăng cường. Nhiều mô hình quần chúng tham gia phòng, chống tội phạm hoạt động hiệu quả. Công tác tuyên truyền, vận động toàn dân tham gia phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn tội phạm tiếp tục được đổi mới với nhiều nội dung thiết thực. Công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành, các địa phương trong phòng, chống tội phạm có hiệu quả hơn. Các lực lượng chức năng đã tập trung đấu tranh phòng, chống tội phạm ở các tuyến, địa bàn và với các đối tượng trọng điểm. Hiệu quả tấn công trấn áp tội phạm đạt kết quả tích cực, đã điều tra, khám phá nhanh các vụ án đặc biệt nghiêm trọng; làm rõ nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng lớn được dư luận đồng tình ủng hộ. Công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật, xử lý tội phạm. Những kết quả đó đã góp phần kiềm chế sự gia tăng tội phạm, bảo vệ trật tự xã hội và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

2. Tồn tại, hạn chế

Công tác phòng, chống tội phạm còn nhiều tồn tại, thiếu sót, đáng chú ý là: Công tác nắm và dự báo tình hình tội phạm chưa đáp ứng tốt yêu cầu đặt ra, còn bị động trong một số vụ việc; vẫn còn tình trạng người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị cơ sở chưa phát huy hết trách nhiệm trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, chưa thực sự quan tâm chỉ đạo công tác phòng, chống tội phạm, chưa dành thời gian thích đáng cho việc đối thoại, giải quyết những yêu cầu chính đáng của người dân; có trường hợp cán bộ còn làm trái pháp luật, tiêu cực, tham nhũng gây bức xúc trong nhân dân.

Công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, nhất là các băng, nhóm tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, tội phạm về ma túy, buôn lậu hiệu quả chưa cao, nhiều trường hợp mới chỉ xử lý được các đối tượng trực tiếp thực hiện tội phạm mà chưa mở rộng vụ án để xử lý các đối tượng chủ mưu, cầm đầu.

Hiệu quả phòng ngừa tội phạm chưa cao, ý thức cảnh giác, tự giác phòng, chống tội phạm của một bộ phận dân cư còn hạn chế. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc chưa phát triển rộng rãi và thiếu chiều sâu. Công tác xã hội hóa phòng, chống tội phạm, hỗ trợ người chấp hành xong án phạt tù, nạn nhân của các vụ bị mua bán người tái hòa nhập, ổn định cuộc sống ở nhiều nơi việc thực hiện còn lúng túng, chưa hiệu quả.

Một số Bộ, ngành còn chậm phê duyệt các Đề án của Chương trình phòng, chống tội phạm (đến nay mới phê duyệt được 8/15 đề án),

II. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM THỜI GIAN TỚI

Từ nay đến cuối năm, dự báo tình hình tội phạm còn diễn biến phức tạp, đặt ra cho chúng ta những yêu cầu, nhiệm vụ rất nặng nề, đòi hỏi Ban Chỉ đạo 138 từ Trung ương đến địa phương phải nỗ lực phấn đấu rất cao, quyết tâm rất lớn để hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ của năm 2017. Do vậy, cần phải bám sát vào chương trình, kế hoạch công tác của Ban Chỉ đạo đã đề ra từ đầu năm, trong đó tập trung thực hiện quyết liệt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

1. Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chương trình, kế hoạch của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về phòng, chống tội phạm, đặc biệt là Kết luận số 05-KL/TW ngày 15 tháng 7 năm 2016 của Ban Bí thư về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 48 của Bộ Chính trị, Kiện toàn Ban Chỉ đạo 138 các cấp để chỉ đạo thực hiện tốt công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay.

2. Tổ chức thực hiện quyết liệt các giải pháp phòng ngừa tội phạm, chú trọng phòng ngừa xã hội, tập trung tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân về phòng, chống tội phạm. Khẩn trương xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện các đạo luật liên quan đến phòng, chống tội phạm vừa được Quốc hội thông qua. Các địa phương tập trung giải quyết dứt điểm các vụ khiếu kiện, mâu thuẫn trong nhân dân ngay tại cơ sở không để phát sinh điểm nóng về an ninh, trật tự trên địa bàn.

3. Tiếp tục mở các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ các sự kiện văn hóa, chính trị, ngoại giao của đất nước, đặc biệt là Hội nghị cấp cao APEC và các hoạt động liên quan. Tập trung đấu tranh triệt xóa các băng, nhóm tội phạm có tổ chức, hoạt động bảo kê, “tín dụng đen”, đòi nợ thuê, núp bóng doanh nghiệp phạm tội, tội phạm sử dụng vũ khí, vật liệu nổ gây án, tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm mua bán người, giết người, cố ý gây thương tích do nguyên nhân xã hội, cướp, cướp giật, trộm cắp tài sản; đối tượng truy nã, tội phạm kinh tế, tham nhũng, buôn lậu tại các địa bàn, lĩnh vực trọng điểm; tội phạm sử dụng công nghệ cao; tội phạm khai thác khoáng sản trái phép, đặc biệt là khai thác cát, sỏi; các tội phạm trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm; các đường dây mua bán, vận chuyển và các tụ điểm sử dụng ma túy. Nâng cao chất lượng công tác điều tra, phát hiện, củng cố tài liệu, chứng cứ xử lý nghiêm minh các đối tượng chủ mưu, cầm đầu; kịp thời truy tố, xét xử những vụ án nghiêm trọng mà dư luận xã hội quan tâm; tăng cường xét xử lưu động để răn đe tội phạm. Các cơ quan thông tin đại chúng chủ động phát hiện, tố giác tố phạm, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

4. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao phẩm chất, đạo đức lối sống cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tội phạm, Khi xảy ra tình huống phức tạp về an ninh, trật tự ở địa phương nào thì chính quyền nơi đó phải tập trung chỉ đạo xử lý, giải quyết dứt điểm. Kiên quyết xử lý nghiêm những cán bộ vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật công tác. Xác định rõ trách nhiệm và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị đối với công tác phòng, chống tội phạm; xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh, nhất là lực lượng nòng cốt phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong phòng, chống tội phạm.

5. Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 1067/QĐ-TTg ngày 19 tháng 7 năm 2017 phê duyệt Chương trình mục tiêu đảm bảo trật tự an toàn giao thông, phòng cháy chữa cháy, phòng chống tội phạm và ma túy giai đoạn 2016 - 2020. Các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương tổ chức thực hiện, Bộ Tài chính sớm bố trí kinh phí để triển khai các đề án. Những Bộ, ngành chưa phê duyệt Đề án thuộc Chương trình phòng, chống tội phạm đến năm 2020 cần khẩn trương phê duyệt để triển khai thực hiện ngay trong năm 2017. Cần tăng cường phối hợp liên ngành trong quá trình thực hiện đề án.

6. Ban Chỉ đạo 138/CP đã thành lập 05 đoàn kiểm tra liên ngành do các đồng chí ủy viên Ban Chỉ đạo làm Trưởng đoàn về làm việc với một số địa phương trong quý IV năm nay. Các đồng chí Trưởng Đoàn sớm bố trí thời gian, có kế hoạch thực hiện cụ thể, kịp thời tháo gỡ ngay những khó khăn, vướng mắc ở địa phương. Ban Chỉ đạo 138 các địa phương cần tăng cường kiểm tra, đôn đốc, chấn chỉnh công tác phòng, chống tội phạm ở cơ sở. Nơi nào để tội phạm lộng hành, phức tạp kéo dài thì người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và trưởng Công an phải chịu trách nhiệm. Kịp thời biểu dương, khen thưởng thành tích của các lực lượng và quần chúng nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

7. Một số nhiệm vụ cụ thể

- Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, bổ sung vào chương trình giáo dục cho học sinh, sinh viên ý thức chấp hành pháp luật, văn hóa học đường, phòng ngừa các tệ nạn xã hội, các trò chơi, dịch vụ mang tính kích động bạo lực, ảnh hưởng xấu đến đạo đức và nhân cách.

- Bộ Công an nghiên cứu, xây dựng dự án Luật Công an xã theo hướng bố trí Công an chính quy ở Công an xã, thị trấn để đáp ứng tốt hơn yêu cầu công tác đảm bảo an ninh, trật tự, kịp thời thu thập, bảo vệ chứng cứ ngay từ đầu.

- Các cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án phối hợp rà soát các vụ án đã có quyết định tạm đình chỉ để xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

- Bộ Tư pháp khẩn trương hoàn thiện cơ chế xử lý tang vật thu giữ trong các vụ án và xử phạt vi phạm hành chính để tránh lãng phí về tài sản, Các Bộ, ngành chức năng tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thể chế pháp luật, nhất là văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự; tổ chức tập huấn các văn bản pháp luật mới ban hành để áp dụng đúng, thống nhất.

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sớm hoàn thành việc xây dựng Chương trình tăng cường quản lý người nghiện ma túy và cai nghiện ma túy, trình Thủ tướng Chính phủ.

- Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng tiếp tục vào cuộc quyết liệt, góp phần thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch phòng, chống tội phạm của Ban Chỉ đạo 138 các cấp.

- Bộ Công an - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 138/CP:

+ Nghiên cứu, đề xuất xây dựng tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các Ban Chỉ đạo 138 các Bộ, ngành và địa phương.

+ Tổng hợp các kiến nghị, đề xuất của các Bộ, ngành, địa phương tại Hội nghị để xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý; hàng tuần có báo cáo tổng hợp tình hình tội phạm xảy ra trên toàn quốc gửi các đồng chí Thành viên Ban Chỉ đạo. Đối với những vụ án nghiêm trọng, gây bức xúc trong nhân dân, cần báo cáo kịp thời với Trưởng Ban Chỉ đạo 138/CP.

Biên tập: Quách Thị Hải Thanh

Kỹ thuật: Hồng Thắm

Cộng tác viên: Xuân Đạt

      Nhằm tuyên truyền quảng bá, giới thiệu và tôn vinh những giá trị văn hóa khảo cổ đặc sắc về một nền văn hóa thời đồ đá nổi tiếng thế giới trên quê hương Hòa Bình; tôn vinh những đóng góp của nhà Khảo cổ học người Pháp Madeleine Colani – người đã có công phát hiện và đặc tên cho nền văn hóa Hòa Bình. Đồng thời góp phần khơi dậy lòng tự hào của các dân tộc tỉnh Hòa Bình. Ban tuyên giáo Huyện ủy đề nghị:

1. Các chi, đảng bộ trực thuộc Huyện ủy đẩy mạnh công tác tuyên truyền kỷ niệm 85 năm ngàu thế giới công nhận nền “Văn hóa Hòa Bình” gắn với tuyên truyền thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị bằng các hình thức phù hợp; chỉ đạo các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương, cơ quan, đơn vị đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến đoàn viên, hội viên về kỷ niệm 85 năm ngày thế giới công nhận nền “Văn hóa Hòa Bình”.

2. Tổ chức các hoạt động thông tin, cổ động về chủ đề kỷ niệm 8 năm ngày thế giới công nhận nền “Văn hóa Hòa Bình”; tổ chức các hoạt động văn hóa – văn nghệ, thể dục – thể thao… phục vụ nhân dân.

3. Xây dựng kế hoạch tuyên truyền trên các phương tin thông tin đại chúng của huyện, mở chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền kỷ niệm 85 năm ngày thế giới công nhận nền “Văn hóa Hòa Bình”; đăng tải và phát sóng đề cương tuyên truyền kỷ niệm 85 năm thế giới công nhận thuật ngữ “Văn hóa Hòa Bình” tại tỉnh Hòa Bình (1932 - 2017).

 

 

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

Kỷ niệm 85 năm thế giới công nhận thuật ngữ

                     “Văn hóa Hòa Bình” tại tỉnh Hòa Bình (1932-2017)                  

 

Hoà Bình là một tỉnh miền núi, cửa ngõ vùng Tây Bắc có vị trí địa lý quan trọng, là vùng đệm trung gian tiếp nối giữa đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và thủ đô Hà Nội với vùng núi cao miền Tây Bắc của tổ quốc. Tỉnh Hoà Bình có diện tích tự nhiên gần 4.610 km2; Dân số trên 83 vạn người; Dân tộc theo thống kê, trên địa bàn tỉnh có 06 dân tộc chủ yếu (Mường, Kinh, Tày, Thái, Dao, Mông) cùng chung sống lâu đời. Dân tộc Mường chiếm trên 63,3%.

Là vùng đất cổ, với các dải núi đá vôi chạy dọc theo h­ướng Đông Nam, song song với dải Trư­ờng Sơn ở phía Tây, đã tạo ra nhiều bồn địa, thung lũng với hệ động, thực vật phong phú, nên ngay từ thời tiền sử, con ng­ười đã sớm sinh tụ trên mảnh đất Hoà Bình và đã để lại một nền văn hoá nổi tiếng "Văn hoá Hoà Bình".

Từ những năm 20 của thế kỷ XX, các hang động trong các sơn khối đá vôi Hòa Bình đã đư­ợc các nhà Khảo cổ học của tr­ường Viễn Đông Bác Cổ chú ý tới. Qua quá trình khảo sát, thám sát, khai quật và nghiên cứu, các nhà khoa học đã tìm ra trong các hang động của các sơn khối đá vôi Hoà Bình một nền văn hoá phát triển trong giai đoạn từ hậu kỳ đá cũ cho tới sơ kỳ đá mới, nền văn hoá này đư­ợc đặt tên là nền “Văn hoá Hoà Bình”.

Ngư­ời có công đầu trong việc phát hiện, nghiên cứu là nhà khảo cổ học người Pháp bà Madeleine Colani. “Văn hoá Hoà Bình” không chỉ tồn tại trên đất n­ước Việt Nam mà còn phân bố rất rộng ở khu vực Đông Nam Á. Ở phía Bắc, di tích “Văn hoá Hoà Bình” có mặt ở Nam Trung Quốc; về phía Nam “Văn hoá Hoà Bình” lan tận đảo Sumatra (Indonesia); phía Tây di tích “Văn hoá Hoà Bình” đã gặp ở Miến Điện, Thái Lan và ở phía Đông ng­ười ta cho rằng có dấu vết của văn hoá này trong một hang động của Philippines. Hiện nay ở Việt Nam đã tìm thấy trên 130 địa điểm thuộc nền “Văn hoá Hoà Bình”, trong đó riêng tỉnh Hoà Bình có trên 70 di tích đã được phát hiện và nghiên cứu.

  Năm 1932, tại hội nghị Tiền sử Viễn Đông họp ở Hà Nội, “Văn hóa Hòa Bình” đã được các nhà khảo cổ thế giới công nhận. Hội nghị đã thông qua và thống nhất lấy thuật ngữ “Văn hoá Hoà Bình” do bà Madeleine Colani đưa ra  để đặt tên cho nền văn hoá này.

“Văn hoá Hoà Bình” tồn tại trong khoảng thời gian từ 30.000 năm đến 7.500 năm cách ngày nay. “Văn hoá Hoà Bình” được xác định là gạch nối giữa thời đại đá cũ (Văn hoá Sơn Vi - Phú Thọ) và thời đại đá mới (Văn hoá Bắc Sơn - Lạng Sơn).

Văn hoá Hoà Bình là một nền văn hoá tiền sử nổi tiếng ở Việt Nam và Đông Nam Á. Văn hoá Hoà Bình có mặt phổ biến ở nhiều nư­ớc Đông Nam Á lục địa, nhưng chư­a ở đâu Văn hoá Hoà Bình phân bố dày đặc và phong phú như­ ở Việt Nam và Việt Nam đ­ược nhiều nhà khoa học nư­ớc ngoài xem là quê h­ương của Văn hoá Hòa Bình.

Sự hiện diện của nền “Văn hoá Hoà Bình” không chỉ là một minh chứng khẳng định Việt Nam là một trong những chiếc nôi của loài người, mà còn cung cấp cho các nhà khảo cổ, các nhà khoa học, các nhà nhân chủng học... trong nước và quốc tế những cứ liệu khoa học về quá trình chuyển hoá sinh học từ người vượn tiền sử Homoeretus tiến lên người hiện đại Homosapiens, về phương thức kiếm sống; về tổ chức xã hội, khi con người ở đây đã tiến từ giai đoạn “bầy người” tới tổ chức bộ lạc nguyên thuỷ....     

Với những di vật hiện có được khi khai quật tại các di chỉ khảo cổ trong thời gian qua, chúng ta đã phần nào vén bức màn thời gian tìm hiểu sự sống và những nét căn bản của sự phát triển xã hội của tổ tiên tiền sử người Việt đã tồn tại và lưu giữ nền văn hóa nguyên thủy “Văn hóa Hòa Bình”. Các di vật tiêu biểu tìm thấy trên vùng đất Hòa Bình phản ánh đời sống xã hội và các phương thức sinh sống của người tiền sử tại Hòa Bình.

1. Về cuộc đời và những đóng góp to lớn của nhà khảo cổ học người Pháp bà Madeleine Colani - người đã có công phát hiện và đặt tên cho nền “Văn hóa Hòa Bình”.

 Madeleine Colani sinh năm 1866 tại Strasbourg, nước Pháp trong một gia đình trí thức theo đạo Tin Lành. Năm 33 tuổi Madeleine Colani sang Việt Nam làm giáo viên một trường tiểu học Phủ Lạng Thương (nay là tỉnh Bắc Ninh). Sau đó một năm thì chuyển về dạy học ở Hà Nội. Năm 1903, bà quay về Pháp, đến năm 1908 đỗ cử nhân sinh vật học và năm 1914 thi đỗ bằng tiến sĩ ở Paris. Từ năm 1915, Madeleine Colani sang làm việc tại Sở Địa chất Đông Dương và sau một thời gian chuẩn bị, năm 1920, bà sang định cư ở hẳn Việt Nam và tiếp tục công tác tại Sở Địa chất Đông Dương. Bà mất năm 1943 tại Hà Nội, Việt Nam (thọ 66 tuổi).

Sinh thời bà là nhà nữ địa chất học, cổ sinh vật học và khảo cổ học đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp hình thành và phát triển của ngành khoa học khảo cổ Việt Nam nói riêng và khảo cổ học Đông Dương nói chung.

Những nghiên cứu, điền dã của bà phủ rộng cả về không gian, thời gian và lĩnh vực: Về thời gian, từ văn hoá Hoà Bình thời tiền sử, cách ngày nay khoảng 20.000 năm đến những vấn đề của văn hoá sơ sử, Sa Huỳnh, Cánh đồng chum; về không gian, từ miền núi phía Bắc Việt Nam, dãy Trường Sơn, Lào đến vùng cồn cát ven biển miền Trung Việt Nam. Mối quan tâm nghiên cứu của bà không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực khảo cổ mà còn lan sang những chủ đề dân tộc học so sánh, dân tộc học khảo cổ, khảo cổ học tôn giáo, khảo cổ học kỹ thuật. Bà đến với khảo cổ học khá muộn, nhưng trong khoảng hai chục năm (từ tuổi 50 đến cuối đời) bà đã làm việc với một sức mạnh phi thường, đã phát hiện thêm 30 di chỉ hang động ở sơn khối Bắc Sơn và năm 1925, văn hoá Bắc Sơn, với công cụ tiêu biểu là rìu mài lưỡi đã được công bố và công nhận.

Từ năm 1926 đến 1932, không gian điều tra khảo sát của bà là vùng núi đá vôi các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá, Quảng Bình... Trong suốt thời gian này, Madeleine Colani đã phát hiện và khai quật 54 di chỉ văn hóa Hòa Bình ở miền Bắc Việt Nam. Kết quả, một nền văn hoá thời đại đá sớm hơn so với văn hoá Bắc Sơn đã được phát hiện. Tại Hội Nghị Tiền Sử Viễn Đông Lần thứ Nhất tại Hà Nội tháng giêng năm 1932 (hội nghị đầu tiên về khảo cổ trên đất Việt Nam), bà đã trình bày đầy đủ bằng chứng sự hiện diện một nền văn hóa cổ không giống những văn hóa tiền sử biết đến trước đó trên thế giới và tên gọi “Văn hoá Hoà Bình” do Madeleine Colani đề xuất đã được thông qua. Bà nổi danh trên thế giới từ đó qua sự chính thức công nhận nền “Văn hóa Hòa Bình” tại hội nghị này. Và có thể nói Madeleine Colani chính là người đã khai sinh cho nền Văn hóa Hòa Bình hay nói cách khác Văn hoá Hoà Bình gắn liền với tên tuổi của nữ học giả Madeleine Colani.

          2. Lịch sử nghiên cứu về “Văn hóa Hòa Bình”

          Văn hoá Hoà Bình được phát hiện và khai quật trong những năm 20 của thế kỷ XX. Đây là những năm được mùa của ngành khảo cổ học Đông Dương của người Pháp. Sau khi đàn áp các cuộc kháng chiến của nhân dân ta vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào kế hoạch khai thác thuộc địa. Để thăm dò tài nguyên và tìm vũ khí tinh thần thống trị nhân dân ta, năm 1898 cùng một lúc thực dân Pháp cho thành lập Sở Địa chất Đông Dương và Uỷ ban Khảo cổ học Đông Dương. Hai năm sau, Uỷ ban này đổi thành Trường Viễn đông bác cổ (Ecole Francaise d'Extrêm-Orient).

          Do phương hướng nghiên cứu của Trường Viễn đông bác cổ và do mối quan hệ chặt chẽ giữa công tác thăm dò địa chất và công cuộc tìm kiếm, khai quật khảo cổ nên công cuộc thăm dò phát hiện, nghiên cứu văn hoá Hoà Bình ban đầu do Sở Địa chất đảm nhiệm và người có công lớn nhất trong việc phát hiện, nghiên cứu này là nữ khảo cổ học người Pháp Madeleine Colani.

          Mùa hè năm 1926, trong mùa điền dã đầu tiên ở sơn khối đá vôi Hoà Bình thuộc huyện Tân Lạc và Kim Bôi, Madeleine Colani đã phát hiện và khai quật 12 hang động và mái đá có vết tích khảo cổ.  

          Trong 4 năm từ 1926 đến 1930, Madeleine Colani đã phát hiện và khai quật trên 50 di tích văn hoá Hoà Bình, thu lượm hàng vạn hiện vật. Có thể nói, đây là những năm được mùa của Văn hoá Hoà Bình.

          Sau đó, cho đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945, không có những phát hiện nào lớn về Văn hoá Hoà Bình.

          Như vậy là từ giữa những năm 20 của thế kỷ XX cho đến trước Cách mạng tháng Tám, việc phát hiện và nghiên cứu văn hoá Hoà Bình chủ yếu là do các nhà địa chất nguời Pháp đảm nhiệm, tiêu biểu hơn cả là Madeleine Colani, J. Fromaget và E. Saurin. Khoảng 60 hang động, mái đá đã được phát hiện với số lượng hiện vật thu lượm được rất phong phú.

          Với việc tiếp quản Viện Bảo tàng Louis Finot của Trường Viễn đông bác cổ từ tay người Pháp và sự ra đời của Vụ Bảo tồn - Bảo tàng năm 1957, công cuộc nghiên cứu khảo cổ trên đất nước ta bước sang một giai đoạn mới và cũng được mở đầu từ Văn hoá Hoà Bình.

          Nhận thức được tầm quan trọng của văn hoá Hoà Bình đối với việc nghiên cứu tiền sử nước ta, cán bộ khảo cổ các cơ quan: Đội khảo cổ (nay là Viện Khảo cổ học) Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Khoa Sử Trường đại học Tổng hợp Hà Nội bắt tay ngay vào tìm hiểu, nghiên cứu nền văn hoá này.

          Ngoài việc chỉnh lý, phân loại các bộ di vật văn hoá Hoà Bình ở kho Viện Bảo tàng Lịch sử cùng công trình của các học giả Pháp để lại, những người làm công tác khảo cổ học của nước ta đã tiến hành thăm dò, khai quật nhiều di tích văn hoá Hoà Bình ở các vùng khác nhau để vừa có thêm tư liệu mới, vừa kiểm tra tư liệu và việc làm của các học giả trước đây.

          Mở đầu là đợt điều tra ở Hoà Bình và Lạng Sơn vào cuối năm 1960, đầu năm 1961 của Khoa Sử Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, với sự tham gia của giáo sư tiến sĩ  P.I.Boriscovski. Trong chuyến công tác này, ngoài việc xem lại các hang động mà H.Mansuy và Madeleine Colani đã khai quật, còn phát hiện thám sát 3 di tích văn hoá Hoà Bình. Sau nhiều cuộc điều tra ở Hoà Bình, đội khảo cổ thuộc Vụ Bảo tồn - Bảo tàng tiến hành khai quật một diện tích nhỏ ở hang Muối. Đây là cuộc khai quật đầu tiên của chúng ta về văn hoá Hoà Bình.

          Tiếp đến, đầu năm 1964, Khoa Sử Trường đại học Tổng hợp Hà Nội tiến hành một đợt thám sát, khai quật ở huyện Kim Bôi và Lương Sơn - Là hai huyện trước đây Madeleine Colani đã phát hiện nhiều di tích văn hoá Hoà Bình. Lần này đã phát hiện và đào ở 11 địa điểm. Giữa năm 1965 Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trở lại khai quật phần còn lại ở Hang Muối, còn Đội khảo cổ tiến hành điều tra vùng Chi Nê thuộc huyện Lạc Thuỷ và khai quật Hang Chim.

          Đầu năm 1966, Viện Bảo tàng Lịch sử khai quật tiếp di tích Đồng Thớt, tức hang Làng Đồi, trước đây đã được Madeleine Colani khai quật dở dang. Đây là một trong những di tích văn hoá Hoà Bình có tầng văn hoá dày, có chỗ dày tới 4,5m.

          Cuối năm 1966, đầu năm 1967, Đội Khảo cổ tiến hành khai quật Hang Đắng và Mái đá Mộc Long ở trong vườn quốc gia Cúc Phương, nằm giữa 3 tỉnh Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh và Thanh Hoá.

          Trên cơ sở những tư liệu mới, trong giai đoạn mở đầu này đã có một số công trình chuyên khảo về Văn hoá Hoà Bình hoặc đề cập đến văn hoá Hoà Bình. Để góp phần đẩy mạnh việc nghiên cứu văn hoá Hoà Bình, Viện Bảo tàng Lịch sử đã chỉnh lý những bộ sưu tập của người Pháp để lại và công bố trong công trình "Những hiện vật tàng trữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam về văn hoá Hoà Bình".

          Những công trình này một mặt đánh giá những việc làm của Madeleine Colani trước đây, mặt khác trao đổi, thảo luận góp phần làm sáng tỏ văn hoá Hoà Bình trên cơ sở tư liệu mới và quan điểm mới. Có thể nói những công trình trong giai đoạn này là những công trình đầu tiên dùng quan điểm Marx - Lenin để phân tích văn hoá Hoà Bình. Các công trình này ít nhiều có đề cập đến các hình thái sinh hoạt kinh tế và tổ chức xã hội của cư dân văn hoá Hoà Bình.

          Tuy có đạt được một số kết quả trong khai quật và nghiên cứu, song việc nghiên cứu Văn hoá Hoà Bình trong những năm 60 này, đối với những người làm công tác khảo cổ Việt Nam chỉ mới là bước đầu có tính chất kiểm tra và làm quen nhằm chuẩn bị cho những đợt công tác mới trong những năm 70.

          Việc nghiên cứu Văn hoá Hoà Bình trong những năm 70 có sự đổi mới về chất. Phương pháp khai quật cũng như nghiên cứu của chúng ta dần dần thoát ra khỏi khái niệm khảo cổ học cổ điển, ứng dụng ngày càng nhiều các khoa học tự nhiên vào khảo cổ học nhằm tìm hiểu các vấn đề môi trường tự nhiên, cuộc sống kinh tế và xã hội thời bấy giờ.

          Tiếp đến vào năm 1973, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt nam khai quật Hang Bưng ở huyện Đà Bắc. Cũng ở Hang Bưng, lần đầu tiên chúng ta tiến hành phân tích bào tử phấn hoa một di tích văn hoá Hoà Bình.

          Trong giai đoạn này, chúng ta không chỉ tập trung sự tìm kiếm di tích văn hoá Hoà Bình trong vùng núi Hà Sơn Bình, Thanh Hoá và Nghệ Tĩnh mà mở rộng lên tận vùng núi Tây Bắc. Đầu năm 1974, Viện khảo cổ học khai quật hang Thẩm Khương thuộc huyện Tuần Giáo (Lai Châu) và tiếp đó, đầu năm 1975 khai quật di chỉ Sập Việt (Sơn La) ven bờ sông Đà. Đây là di chỉ Văn hoá Hoà Bình ngoài trời lần đầu tiên được khai quật ở nước ta.

          Cũng trong năm 1975, Khoa Sử, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội phát hiện nhóm di tích Văn hoá Hoà Bình quanh chùa Hương và tiến hành khai quật hang Sũng Sàm thuộc huyện Mỹ Đức.

          Đầu năm 1976, Viện khảo cổ học khai quật hang Con Moong thuộc huyện Thạch Thành (Thanh Hoá) nằm trong vườn Quốc gia Cúc Phương. Sang năm 1981 và những năm sau đó, Viện khảo cổ học tiến hành khai quật hang Xóm Trại ở Mường Vang thuộc huyện Lạc Sơn. Đầu năm 1982, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Viện Khảo cổ học và Trường đại học Tổng hợp Hà Nội phối hợp khai quật mái đá Ngườm ở huyện Võ Nhai (Thái Nguyên).

          Trong khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam và Liên xô khảo cổ học, năm 1984, đã khai quật Hang Khoài ở huyện Mai Châu.  Đầu năm 1987, Viện Khảo cổ học và Viện Khảo cổ Bảo tàng Bungari trong khuôn khổ hợp tác đề tài hoàn thiện phương pháp khai quật trong hang động đã khai quật Động Can thuộc huyện Kỳ Sơn. Ở đây, cùng với bộ sưu tập văn hoá Hoà Bình, bằng phương pháp sàng khô và đãi trong nước đã thu lượm được nhiều xương răng động vật nhỏ và hạt thực vật góp phần tìm hiểu cảnh quan thiên nhiên vùng núi Hoà Bình thời bấy giờ.

          Các kết quả thám sát khai quật phần lớn được thông báo trên tạp chí Khảo cổ học, trong kỷ yếu những phát hiện mới về khảo cổ học của Viện Khảo cổ học và trong Thông báo khoa học của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

          Cho đến nay gần 120 di tích văn hoá Hoà Bình đã được phát hiện ở Việt Nam, trong đó trên một nửa do các nhà khảo cổ học Việt Nam phát hiện trong khoảng những năm 1966 - 1980. Không những số lượng di tích tăng nhiều mà phạm vi phân bố cũng trải rộng hơn. Ngoài Hòa Bình, Thanh Hoá tập trung nhiều nhất, di tích Văn hoá Hoà Bình còn có mặt ở vùng núi Tây Bắc, trong các tỉnh Sơn La, Lai Châu và vùng núi Nghệ Tĩnh là những vùng trắng trước đây.

          Từ nguồn tư liệu mới, các công trình trong giai đoạn này đã tìm hiểu văn hoá Hoà Bình một cách toàn diện, kể cả những vấn đề hết sức cơ bản như khái niệm văn hoá Hoà Bình. Các ý kiến thảo luận trao đổi xoay quanh khái niệm Văn hoá Hoà Bình và truyền thống kỹ thuật Hoà Bình, phức hợp kỹ thuật Hoà Bình là những khái niệm được một số nhà khảo cổ phương Tây đưa ra trong những năm gần đây. Còn nhiều điều cần làm sáng tỏ, song hầu hết các ý kiến đều xác nhận về tồn tại một nền văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam và Đông Nam Á.

Từ năm 1990 đến nay, nghiên cứu Văn hóa Hòa Bình đã chuyên sâu hơn được thể hiện trên mấy hướng:

- Ứng dụng tiếp tục các thành tựu định tuổi C14, AMS và Hiệu chỉnh vòng cây (Dendrology) đã khẳng định tuổi Hoabinhan ở VN từ trên 30 ngàn năm trước.

- Mở rộng ứng dụng khai quật kiểu mới với thực hiện sàng lọc, xử lý mấu phytolith, opal và starchology, xác lập vết mòn sử dụng cả trên công cụ lẫn đường đi, khu cư trú, xử lý loại hình đá non-tool có khoáng chất, khai thác dữ kiện nhân học để làm rõ lý thuyết các lớp nhân học và mô hình vận động, di chuyển, theo mùa và theo địa vực. Tiêu biểu nhất là những nỗ lực của Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á của TS.Nguyễn Việt ở Việt Nam, Nhóm nghiên cứu Hoabinhian của Thái Lan ở Mea Hongson, nhóm nghiên cứu của Thongsa ở Lào, của các học giả Trung Quốc ở Hoa Nam và nhóm nghiên cứu của Hàn Quốc.

          3. Giới thiệu các nội dung giá trị của “Văn hóa Hòa Bình”

          3.1. Phạm vi phân bố của các di tích khảo cổ Văn hóa Hòa Bình:

          Văn hoá Hoà Bình không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn xuất hiện và tồn tại ở nhiều quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á; kéo dài từ phía Nam Trung Quốc đến đảo Sumatra của Indonexia theo chiều dọc, từ Thái Lan qua Đông Dương sang tận Philippin theo chiều ngang và tồn tại trong khoảng thời gian dài từ cuối kỳ Pleistocene đến giữa kỳ Holocene.

          Tại Việt Nam, các di tích văn hoá Hoà Bình phân bố không đều, tập trung nhiều nhất tại hai tỉnh: Hoà Bình (72 điểm) và Thanh Hoá (32 điểm), số còn lại phân bố rải rác ở các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình và Quảng Trị. Các di tích chủ yếu tập trung ở các vùng núi đá vôi tại các thung lũng hoặc các hang động, mái đá.

Cư dân Văn hoá Hoà Bình đã có ý thức trong việc chọn lựa nơi cư trú. Các di tích chủ yếu nằm trong các hang động và mái đá cao ráo quanh các thung lũng, có hệ sinh thái phổ tạp thuận lợi cho việc săn bắt và hái lượm. Đặc biệt là rất sẵn nguyên liệu cuội để chế tác công cụ lấy từ các sông suối chảy qua lòng thung lũng.

  Hướng của hang động thường là hướng Đông - Nam, Tây - Bắc đối với vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm của vùng núi thượng du. Đây là hướng lý tưởng để tránh gió mùa Đông Bắc, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, đảm bảo đủ nhiệt độ và ánh sáng trực tiếp ban ngày.

  Các di tích thường phân bố thành từng cụm trong các thung lũng hẹp, mỗi cụm có từ 5 đến 7 di tích và có diện tích từ 50m đến 150m, độ cao trung bình so với mặt ruộng từ 10m đến 20m.

  Ngoài các di chỉ trong hang động và mái đá, còn có một bộ phận rất nhỏ cư dân Văn hoá Hoà Bình phân bố ngoài trời và thềm sông suối.

          3.2. Cuộc sống của cư dân Văn hóa Hòa Bình:

          3.2.1. Công cụ sản xuất:

Các di vật chính của thời kỳ Văn hóa Hòa Bình tại tỉnh Hòa Bình và các tỉnh từ Quảng Bình đến Thái Nguyên là các dụng cụ bằng đá cuội ghè đẽo tương đối thô sơ một mặt, hoặc chỉ phần lưỡi. Cuội là những hòn đá trên núi bị nước lũ cuốn đi, va chạm, chà xát lẫn nhau trong lòng song, lòng suối làm vỡ nhỏ ra và các góc cạnh bị mài mòn. Cuội thường hình tròn, dẹp hay bầu dục; bề mặt nhẵn tự nhiên của cuội được gọi là vỏ cuội. Người cổ Hòa Bình nhặt cuội lòng sông hay trên bờ và chọn một số lượng vừa đủ những hòn cuội có hình dạng và cỡ lớn thích hợp với thứ dụng cụ theo ý muốn. Họ chỉ đẽo một đầu hay một bên rìa cuội để có cạnh sắc và tận dụng nguyên trạng phần vỏ cuội nhẵn mòn tự nhiên. Các nhà khảo cổ đã thử nghiệm đẽo cuội hầu tìm hiểu kỹ thuật người xưa. Kỹ thuật đẽo đá là sự kết hợp tổng hoà của các thủ pháp chẻ, bổ, đập, bẻ, ghè - đẽo, mài - cưa.

 Về loại hình: Rất phong phú và đa dạng như công cụ hình đĩa, công cụ 1/4 viên cuội, công cụ hình hạnh nhân, nạo lưỡi dài, nạo lưỡi ngắn, rìu dài, rìu ngắn, bôn, rìu mài lưỡi....

  Ngoài công cụ đá, người Hoà Bình đã biết chế tác và sử dụng một số công cụ bằng xương, sừng và vỏ trai như: rìu xương, đục xương, mũi nhọn và nạo vỏ trai.

          Trong những lớp đất thuộc nền Văn hoá Hoà bình muộn đã tìm thấy rất nhiều các mảnh gốm thô làm từ đất nung nặn bằng tay hoặc làm bằng khuôn đan, sau đó trang trí hoa văn thừng, khắc vạch và trổ lỗ.

  3.2.2. Tầng văn hoá:

  Tầng văn hoá là vết tích của người xưa để lại, tuỳ thuộc vào thời gian cư trú mà tầng văn hoá có độ dày mỏng khác nhau. Tầng văn hoá có độ dày từ 0,3 m đến 4m như di tích hang Xóm Trại ở huyện Lạc Sơn.

  Thành phần cấu tạo chủ yếu của tầng văn hoá gồm: đất sét vôi xen các vỏ nhuyễn thể chủ yếu là ốc suối và ốc núi, xương cốt động vật, vỏ và hạt một số loài thảo mộc, dấu tích than tro, di cốt người và mộ táng, công cụ chủ yếu là công cụ đá, các phế liệu chế tác và mảnh gốm.

Nhìn chung các di tích Văn hoá Hoà Bình có nhiều lớp phức tạp, các lớp đó ít nhiều phản ánh tính chất, giai đoạn hoặc mức độ sớm muộn của Văn hoá Hoà Bình.

          3.2.3. Mộ táng:

  Cư dân Văn hoá Hoà Bình thường chôn người chết ngay trong nơi cư trú. Mộ có thể đặt ngay trong góc hang hoặc gần bếp lửa. Điều này phản ánh tâm lý của người nguyên thuỷ muốn người chết ở gần mình hơn, được nghỉ ngơi ở chỗ sinh hoạt thường ngày để tạo sự đầm ấm và tránh thú dữ ăn thịt.

  Hầu hết thi hài người chết được rắc thổ hoàng sau khi chôn và chủ yếu được chôn theo tư thế nằm co bó gối. Đáy mộ có lót than tro, thổ hoàng, đá răm. Đa số xung quanh mộ được ghè đá làm hộp mộ và người chết thường được chôn theo những công cụ bằng đá, đồ trang sức.

  3.2.4. Con người, xã hội và kinh tế của cư dân Văn hoá Hoà Bình

  Trong thời đại Văn hoá Hoà Bình đã có những bước chuyển biến về sinh học, phương thức kiếm sống và đời sống xã hội.

  Về con người: Họ từ người vượn Homeretur tiến hoá thành người hiện đại homosapiens.

  Về phương thức kiếm sống: Từ khởi điểm cho đến một thời gian dài trong thời đại Văn hoá Hoà Bình cư dân sống bằng săn bắt và hái lượm. Đến giai đoạn Hoà Bình muộn, với sự ra đời của kỹ thuật mài con người mới chuyển từ kinh tế khai thác tự nhiên sang kinh tế sản xuất nông nghiệp, dù mới ở mức độ hình thành sơ khai. Lúc này săn bắt và hái lượm không còn giữ vai trò độc tôn nhưng vẫn giữ vai trò chủ đạo, chăn nuôi vẫn chưa ra đời.

          Về mặt chế độ xã hội: Cư dân Văn hoá Hoà Bình sống trong chế độ Mẫu quyền, tụ cư thành những gia đình lớn. Điều đó thật dễ hiểu khi mà những tàn tích thức ăn còn lại, được các nhà khảo cổ học phân tích cho thấy người Hoà Bình hái lượm trội hơn săn bắt. Phụ nữ không chỉ sinh nở mà còn là nhân lực chính cho hoạt động hái lượm, tạo nguồn thực phẩm chính và ổn định vì thế mà họ chiếm vai trò chủ đạo trong cộng đồng.

          4. Một số di tích khảo cổ tiêu biểu của văn hóa Hòa Bình

4.1. Di tích Hang Xóm Trại, xã Tân Lập, huyện Lạc Sơn:

Hang xóm Trại đã được các nhà nghiên cứu khảo cổ biết tới từ khá sớm. Từ khi phát hiện cho tới nay đã có tới 8 cuộc điều tra, thám sát, khai quật tại di tích.

Lần 1: Năm 1975 ông Hà Phùng Tiến - một cán bộ Khảo cổ học khi đi điền dã tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đã phát hiện ra địa điểm này;

Lần 2:  Năm 1980, nhân chuyến công tác nghiên cứu tại Hoà Bình, Đoàn Địa chất 203 đã tiến hành khảo sát thực địa khu vực huyện Lạc Sơn (Hoà Bình) và đã tiếp tục phát hiện ra dấu vết văn hoá nguyên thuỷ ở đây;

Lần 3: Tháng 7 năm 1980, các cán bộ của Viện Khảo cổ học và Đoàn địa chất 203 đã tiến hành điều tra và xác minh địa điểm khảo cổ học hang Xóm Trại;

Lần 4: Nhằm thu thập một bộ sưu tập hiện vật phong phú tìm hiểu về Văn hoá Hoà Bình để chuẩn bị cho Hội nghị khoa học về Văn hoá Hoà Bình, Viện Khảo cổ học đã tiến hành khai quật hang Xóm Trại trong tháng 5 năm 1981. Trong đợt khai quật này đã thu được 1.150 hiện vật, bao gồm công cụ đá và xương;

Lần 5: Tháng 8 năm 1982, Viện Khảo cổ tiếp tục đào thám sát lại hang Xóm Trại lần thứ hai để xác định trữ lượng tư liệu trong Văn hoá Hoà Bình.

Lần 6: Năm 1986, Tiến sĩ Nguyễn Việt lại phụ trách đoàn khai quật tiến hành khai quật  hang lần thứ ba;

Lần 7: Năm 2004, nhằm tìm hiểu thêm tư liệu về di tích Hang Xóm Trại, Tiến sĩ Nguyễn Việt - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Tiền sử Đông Nam Á lại tiến hành điều tra, thám sát hang;

Lần 8: Năm 2008, trong quá trình tiến hành tu bổ, tôn tạo di tích Hang Xóm Trại, Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á và Bảo tàng Hoà Bình đã phát hiện nhiều tư liệu mới hết sức thú vị về hang xóm Trại;

Những giá trị tiêu biểu:

1. Đã phát hiện số lượng di vật đá xương phong phú nhất lên tới trên 5.000 tiêu bản; Đây vừa là nơi cư trú lâu dài, vừa là công xưởng để chế tác công cụ của cư dân Văn hoá Hoà Bình.

2. Sự xuất hiện hàng trăm hiện vật đá thể khối lớn, trung bình tới 10 kg/hv;

3. Tầng văn hoá khảo cổ rất dày lên tới 5m và trải dài trên bề mặt 200m2 của hang cùng với số lượng vỏ ốc rất lớn tới hàng chục triệu vỏ;

  4. Phát hiện vết tích tro bếp dày hàng mét;

5. Phát hiện hệ thống tư liệu nghệ thuật tiền sử sớm nhất hiện biết ở Việt Nam và có thể ở Đông Nam Á.

6. Phát hiện hệ thống hai lối đi cổ tương ứng với thời kỳ bắt đầu đến sống ở hang (trước 21 ngàn năm) và khoảng 8-9 ngàn năm sau những đợt đá rơi đầu toàn tân.

7. Phát hiện một phần của bộ hài cốt cổ nằm trong địa tầng có tuổi C14 khoảng 17 ngàn năm.

8. Phát hiện hệ thống đá khoáng có thể dùng do nhu cầu mất cân bằng dinh dưỡng khoáng nguyên thuỷ.

9. Qua những công cụ đá balzan mài tại hang đã giúp cho việc hoàn thiện tư liệu về kỹ thuật mài sớm trong thời đại đá cũ Việt Nam.

10. Đã phát hiện được rất nhiều mảnh gốm thuộc văn hoá Đa Bút cách ngày nay 5 - 6 nghìn năm, có nhiều mảnh được trang trí hoa văn rất đẹp.

11. Hiện tại di tích còn giữ được nhiều giá trị gốc:

  - Các dấu vết đường đi được bảo tồn nguyên trạng;

  - Giữ nguyên một phần tầng văn hoá đã hoá thạch bên vách hang;

  -  Hang được vệ sinh làm xuất lộ dấu tích văn hoá thời kỳ đầu của hang;

  - Tầng văn hoá còn rất nhiều trong hang;

   Từ những phát hiện mới trên, Hang Xóm Trại đã trở thành địa điểm Văn hoá Hoà Bình tiêu biểu nhất của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Di tích được xếp hạng cấp quốc gia năm 2001.

4.2. Di tích Hang Chổ, xã Cao Răm, huyện Lương Sơn:

  Hang nằm phía s­ườn Tây Nam núi Sáng thuộc xóm Hui, xã Cao Răm, huyện L­ương Sơn, tỉnh Hoà Bình.

  - Di chỉ hang Chổ năm 1926 đã đư­ợc nhà khảo cổ học ngư­ời Pháp bà M. Côlani khai quật từ ngày 9-12 đến ngày 13-12.

- Năm 1984 Bảo tàng Hà Sơn Bình kết hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiếp tục khảo sát, nghiên cứu kỹ lư­ỡng hang Chổ và khu vực bãi trống tr­ước cửa hang.

- Tháng 11 năm 1998 một lần nữa Bảo tàng Hoà Bình kết hợp với Viện Khảo cổ học trong ch­ương trình hợp tác, nghiên cứu khoa học vùng đất Cao Răm đoàn đã đào thám sát một hố với diện tích 4m2 tại hang Chổ.

  Qua kết quả điều tra, thám sát và nghiên cứu các nhà khảo cổ học đều cho rằng:

  + Di chỉ hang Chổ là nơi c­ư trú khá lâu của ng­ười nguyên thuỷ (thể hiện ở tầng văn hoá rất dầy).

  + Căn cứ vào số l­ượng mảnh t­ước lớn, mảnh vỡ công cụ nhiều. Đồng thời còn phát hiện một số hạch đá có thể tích lớn (có vết bổ dở) là nguyên liệu chế tác công cụ chứng tỏ di tích hang Chổ còn là di chỉ xư­ởng.

  - Về niên đại, hang Chổ trong tương quan với các di tích Hoà Bình khác. Hang Chổ có những yếu tố biểu hiện của một giai đoạn cao của Văn hoá Hoà Bình. Căn cứ vào tổng thể di vật có thể đ­ã ra một khung niên đại tư­ơng đối của di tích trên d­ưới 10.000 năm trong giai đoạn chuyển tiếp sang trung kỳ đá mới ở nước ta.

  Di vật đá ở hang Chổ biểu hiện những đặc tr­ưng của di vật văn hoá Hoà Bình. Công cụ làm bằng đá cuội chiếm đa số, trong đó bao gồm cả những hòn cuội nguyên và những loại làm từ mảnh cuội tách mỏng.

Ngoài những loại hình công cụ thuộc nhóm truyền thống nh­ư công cụ rìa l­ưỡi dọc, công cụ rìa liên tiếp, mũi nhọn thì nổi bật lên là những đặc chủng công cụ đá Hoà Bình bao gồm công cụ hình bầu dục, hình hạnh nhân, hình chữ nhật và rìu ngắn loại di vật có nhiều lỗ vũm nhỏ mà bà Madeleine Colani gọi là Pierres à cuppules th­ường gặp trong các di tích Hoà Bình khác cũng có mặt ở đây.

Tầng văn hoá chủ yếu là nhuyễn thể ốc lẫn còn có các vỏ trai sông rất to và dầy cho thấy, khí hậu trong vùng thời kỳ ấy có độ ẩm cao và có các dòng sông, suối lớn trong khu vực.

4.3. Di tích Hang Đồng Thớt, xã Thanh Nông, huyện Lạc Thủy:

Tháng 9/1926, Madeleine Colani nhà nữ khảo cổ học người Pháp trở lại nghiên cứu một số nơi trong tỉnh Hoà Bình lần thứ 2 từ tháng 9 đến nửa tháng 12 năm 1926. Madeleine Colani đã phát hiện và khai quật ở đây 11 địa điểm khảo cổ, di chỉ hang Đồng Thớt là một trong những di chỉ mà Madeleine Colani đã khai quật trong thời kỳ này. Tổng số hiện vật mà Madeleine Colani thu được ở di chỉ này là 527 hiện vật: trong đó hầu hết là đồ đá, một số ít là đồ xương, một số răng xương động vật. Những kết quả của cuộc khai quật này, bà chưa nghiên cứu và chưa công bố, mà chỉ thấy nói đến di chỉ này ở phần “những nhận xét mới” trong cuốn “Thời đại đồ đá trong tỉnh Hoà Bình”.

Những hiện vật tìm được ở di chỉ hang Đồng Thớt hiện nay chỉ giữ được một số tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Tất cả có 123 hiện vật, so sánh với phiếu ghi hiện vật của Madeleine Colani để lại là 527 hiện vật chúng ta thấy còn thiếu nhiều không thể làm cứ liệu đầy đủ cho công tác nghiên cứu.

Trước tình hình đó năm 1966, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tiến hành khảo sát thăm dò và khai quật ở tầng văn hoá còn nguyên vẹn từ ngày 14/4/1966 đến ngày 30/4/1966. Với diện tích khai quật 36 m2, đoàn đã thu thập một khối lượng hiện vật rất lớn. Đây là tài liệu hiện vật rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu nền văn hoá Hoà Bình.

  Hang Đồng Thớt là một di chỉ thuộc nền Văn hoá Hoà Bình. Tầng văn hoá khảo cổ ở đây tuy dầy và chia thành nhiều lớp rõ rệt nhưng những di vật phân bổ trong đó không có những yếu tố đánh dấu sự khác nhau về giai đoạn phát triển của Văn hoá Hoà Bình.

Khối lượng di vật phát hiện được ở di chỉ này rất phong phú trong đó đồ đá chiếm khối lượng lớn nhất đã có hơn 500 hiện vật có vết gia công của con người. Gần hết những loại di chỉ Đồng Thớt đều được làm bằng những hòn cuội. Đó là một thứ nguyên liệu dễ kiếm ở gần nơi ở của họ và rất thuận lợi cho việc chế tác công cụ. Người nguyên thuỷ đã lựa chọn những hòn cuội có hình dáng và kích thước hợp với từng loại công cụ đem ghè đẽo làm thành công cụ. Ở đây không thấy có những công cụ được làm từ những mảnh tách, từ những hòn đá gốc, từ những tảng đá lớn... Hầu hết công cụ được chế tác từ những hòn cuội nguyên, chính vì vậy đã trở thành kỹ thuật đặc trưng của Văn hoá Hoà Bình.

Về loại hình công cụ mang tính chất đặc trưng của Văn hoá Hoà Bình như: Công cụ hình hạnh nhân, công cụ hình đĩa chiếm một số lượng lớn.

Hình thái kinh tế của người nguyên thuỷ tại đây là hái lượm và săn bắn hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên. Ở đây không thấy vết tích của nghề nông nghiệp nguyên thuỷ, của việc chăn nuôi gia súc.

  Về niên đại: Căn cứ vào di vật, địa tầng trong mối tương quan với các di tích khác của nền Văn hoá Hoà Bình cho phép chúng ta đưa ra một khung niên đại tương đối cho di chỉ này từ 10.000 - 7.000 năm cách ngày nay.

4.4. Di tích Hang Muối, thị trấn Mường Khến, huyện Tân Lạc:

Tháng 9/1963, Đội khai quật Vụ Bảo tồn - Bảo tàng thuộc Bộ Văn hoá đã tiến hành khai quật với quy mô nhỏ ở hang Muối, do các đồng chí đội phó Phạm Văn Kỉnh và Nguyễn Ngọc Đính, Nguyễn Đình Tấn phụ trách d­ưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí đội tr­ưởng Nguyễn Văn Nghĩa.

Tháng 5 năm 1964, đội khảo cổ Bộ Văn hoá lại tiến hành thám sát hang Muối một lần nữa để kiểm tra lại địa tầng và thu nhập thêm một số hiện vật làm cơ sở nghiên cứu sau này, tạo điều kiện nghiên cứu Văn hoá Hoà Bình một cách toàn diện hơn.

Tiếp đến tháng 6 và 7 năm 1965, Viện Bảo tàng tiến hành khai quật trên phần còn lại của khu vực chư­a đ­ược nghiên cứu của các lần trư­ớc, nhằm bổ xung hiện vật cho công tác nghiên cứu và tr­ưng bày trong cuộc chỉnh lý tiến hành vào năm 1966. Cuộc khai quật lần này là một trong những cuộc khai quật đầu tiên có quy mô tư­ơng đối lớn của nghành khảo cổ học n­ước ta về Văn hoá Hoà Bình từ sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng.

Quá trình thám sát, khai quật, nghiên cứu hang Muối, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy sự cấu tạo của tầng văn hoá rất dầy (đến 1,70m); phát hiện thấy hai hố đất mùn (hố rác) bếp nguyên thuỷ và một số hiện vật rất lớn (hơn 900 hiện vật); và 2 mộ táng, điều đó chứng tỏ rằng đây là một di chỉ cư­ trú của ng­ười nguyên thuỷ.

Phát hiện ra di tích hang Muối là một bư­ớc hết sức quan trọng và mang một giá trị lịch sử to lớn. Nó có ý nghĩa về nhiều mặt khoa học. Việc nghiên cứu khoa học, tìm những t­ư liệu chứa đựng trong di tích là một b­ước cần thiết, là yếu tố quan trọng trong công tác nghiên cứu việc phát sinh và phát triển loài ng­ười. Chính vì vậy di tích hang Muối trên đất nư­ớc ta nói chung, của Tân Lạc, Hoà Bình nói riêng là một tài sản vô cùng quý báu; nó đóng góp một phần quý giá cho nền khoa học nư­ớc nhà cũng như nền khoa học thế giới một tư­ liệu cực kỳ quý báu.

4.5. Danh mục di tích khảo cổ học Văn hóa Hòa Bình đã được xếp hạng cấp quốc gia (chưa có di tích xếp hạng cấp tỉnh) Tổng số 10 di tích.

Huyện Lương Sơn:

Stt Tên di tích Địa điểm Loại hình QĐ xếp hạng số, ngày, tháng, năm

 

Ghi chú

1 Hang Tằm Xóm Rổng Tằm, xã Lâm Sơn Khảo cổ Số 06/2000/QĐ -BVHTT ngày 13/4/2000
2 Hang Chổ Xóm Hui, xã Cao Răm Khảo cổ Số 06/2000/QĐ -BVHTT ngày 13/4/2000

 

Huyện Tân Lạc:

1 Hang Muối Khu I, thị trấn Mường Khến Khảo cổ Số 1568 QĐ/BT ngày 20/4/1995
2 Hang Bư­ng Xóm Nẻ, xã Ngòi Hoa Khảo cổ Số 15/2003/QĐ-BVHTT ngày 14/4/2003

Huyện Mai Châu:

1 Hang Khoài Xóm Sun, xã Săm Khoè Khảo cổ Số 141 QĐ/VH ngày 23/1/1997
2 Hang Láng Xóm Chiềng Châu, xã Chiềng Châu Khảo cổ Số 38/2005/QĐ-BVHTT ngày 22/8/2005

Huyện Lạc Sơn:

1 Hang xóm Trại Xóm Trại, xã Tân Lập Khảo cổ Số 53/2001/QĐ-BVHTT ngày 28/12/2001
2 Mái đá Làng Vành Xóm Làng Vành, xã Yên Phú Khảo cổ Số 15/2003/QĐ-BVHTT ngày 14/4/2003

 

Huyện Lạc Thủy:

1 Động Tiên Xóm Lão Nội, xã Phú Lão Khảo cổ Năm 1989
2 Hang Làng Đồi(hang Đồng Thớt) Xã Thanh Nông Khảo cổ Số 53/2001/QĐ-BVHTT ngày 28/12/2001

 

          5. Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị của “Văn hóa Hòa Bình”

Để thực hiện có hiệu quả việc bảo tồn và phát huy các giá trị của nền “Văn hóa Hòa Bình” cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là: Tiếp tục tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các cơ quan liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ khoa học về văn hoá, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá đặc sắc của tỉnh nói chung về di tích "Văn hóa Hòa Bình" nói riêng. 

Hai là: Cần tiến hành điều tra khảo sát, thống kê các di tích Khảo cổ học Văn hóa Hòa Bình, lập hồ sơ di tích;

          Ba là: Tăng cường hợp tác với các tổ chức trong nước, quốc tế khuyến khích tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân nghiên cứu về “Văn hóa Hòa Bình”.  

         Bốn là: Bằng hình thức trực quan, qua mạng Internet, qua tuyên truyền báo chí, bằng nhiều thứ tiếng khác nhau tăng cuờng tuyên truyền đến nhân dân trong tỉnh và cả nước; chú trọng tuyên truyền tại các trung tâm Văn hóa, Kinh tế, Chính trị lớn của cả nuớc như: Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh... tại các diễn đàn khoa học quốc tế, đến với bạn bè trên thế giới về "Văn hóa Hòa Bình";

          Năm là: Tiến hành nghiên cứu xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị Thủ tướng chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho một số di tích khảo cổ của nền “Văn hóa Hòa Bình” tiêu biểu.

6. Một số nhà khoa học trong và ngoài nước có nhiều nghiên cứu, đóng góp về “Văn hóa Hòa Bình”

1. Madelaine Colani, tiến sĩ địa chất. Đã mất 1943.

2. Mathew (1960): Người đầu tiên lấy văn hóa Hòa Bình trong phạm vi toàn cầu làm đề tài luận văn tiến sĩ.

3. Boriscopski , Giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia đá cũ người Nga, Đại học Tổng hợp Leningrad (Saint Peterburg) Liên Xô cũ. Đã sang làm chuyên gia giúp Việt Nam đào tạo thế hệ khảo cổ học đầu tiên trong những năm đầu 1960. Ông đã tiến hành phúc tra một số hang mà Colani đã phát hiện và khai quật, đồng thời phụ trách khai quật Hang Muối, Hang Tằm... Đã mất (1988 ?)

4. Chester Gorman, tiến sĩ người Mỹ, đã tiến hành đề tài nghiên cứu văn hóa Hòa Bình ở Đông Nam Á, từ khai quật các hang động mái đá ở Tây Bắc Thái Lan (Mea Hongson), trong đó có các hang nổi tiếng như Thẩm Ma (Spirit Cave), Hang Lũng Đa (Banyan Valey Cave) trong những năm cuối 1960 đầu 1970...Cũng là người đầu tiên dùng sàng lọc để đưa ra ánh sáng những tàn tích thực vật trong trầm tích văn hóa Hòa Bình và gợi ý khả năng nông nghiệp sớm trong khung cảnh văn hóa Hòa Bình. Ch. Gorman sang thăm Việt Nam và các hang động Hòa Bình từ 1978, sau đó mấy năm đã qua đời do ung thư khi còn khá trẻ (1982 ?).

5. Nishimura Manasary là nhà khảo cổ học Nhật đã tham gia một số khai quật Hoabinhian ở Thái Lan sau đó sang Việt nam từ những năm đâu 1990 để nghiên cứu sưu tập hang Xóm Trại và công bố trong Hội nghị 60 năm Văn hóa HB 1932-1992 ở Hà Nội. Sau đó chuyển sang các nền văn hóa khác muộn hơn. Đã mất 2012.

6. Hoàng Xuân Chinh, PGS , Chuyên viên thời đại đá, nguyên Trưởng Ban, Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học. Đã khai quật một số hang động  và công bố một số bài báo, sách về văn hóa Hòa Bình, trong đó chủ biên cuốn Văn hóa Hòa Bình ở Việt Nam  năm 1989.

7. Nguyễn Việt, Tiến sĩ khảo cổ học (Đức), người đầu tiên ứng dụng phương pháp sàng lọc và xử lý vi tư liệu vào nghiên cứu khảo cổ học ở Việt Nam vào năm 1982, 1986, 1987 tại các hang Xóm Trại, Làng Vành, Xóm Tre, Hang Muối, Con Moong, Động Cang, Sũng Sàm...đưa ra ánh sáng hệ thống tư liệu hữu cơ tàn tích thức ăn hạt quả trong trầm tích hang động văn hóa Hòa Bình, xây dựng thành công hệ thống niên đại carbon phóng xạ cho văn hóa Hòa Bình bằng cả vỏ ốc núi, vỏ ốc suối và than hạt quả (trám - canarium , dẻ đá - Juglan). Đề xuất ở các Hội nghị thế giới (Paris 1988, Tokyo 2000, Roma 1998) quê hương (Homeland) của văn hóa Hòa Bình ở Việt Nam và trên Thế giới là các thung lũng bao quanh sơn khối Kim Bôi, trong đó thung lũng Mường Vang là trung tâm, đồng thời tách bạch hai hệ thống Hoabinhian : Cổ điển (Classic) với Làng Vành, Xóm Trại, Hang Muối... niên đại từ 20 ngàn năm làm tiêu biểu và hệ thống mở rộng (opening) niên đại gối Cánh tân/Toàn Tân tức khoảng trên dưới 10 ngàn năm, như Con Moong, Hang Đắng, Sũng Sàm, Hang Sáo...làm tiêu biểu. Từ 2004, 2008 trên cơ sở các cuộc khai quật, phúc tra mới tại hang Xóm Trại, Mái Đá Đú Sáng đã đề xuất đề tài quốc tế Further Studies on Hoabinhian (Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về Văn hóa Hòa Bình), phát hiện các vấn đề lớn mang tính quốc tế : sử dụng đá khoáng, bằng chứng cư trú và khai thác theo mùa, bức tranh thức ăn Hoabinhian, chứng cứ mỹ thuật sớm nhất từ Hoabinhian ở Việt Nam  ... Dự kiến sẽ khai quật tiếp tục ở Đú Sáng, huyện Kim Bôi và phúc tra xóm Trại, huyện Lạc Sơn, làng Vành, xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn trong năm nay và các năm tới.

Ngoài ra còn nhiều nhà khoa học đề cập đến văn hóa Hòa Bình ở các nước như Nepal, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Nhật Bản, Trung Quốc..../.

Biên tập: Quách Thị Hải Thanh

Kỹ thuật: Hồng Thắm

Cộng tác viên: Xuân Đạt

Thực hiện Kế hoạch số 54-KH/HU ngày 12/4/2017 của Ban Thường vụ Huyện uỷ về triển khai, thực hiện các tháng hành động trên địa bàn huyện trong năm 2017 (trong đó, tháng 9 là tháng hành động về an toàn giao thông), Ban Tuyên giáo Huyện uỷ vừa ban hành đề cương tuyên truyền Tháng hành động về an toàn giao thông.

Trong thời gian qua, công tác đảm bảo trật tự An toàn giao thông (sau đây viết tắt là TTATGT) đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự vào cuộc của các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị trên địa bàn huyện; hạn chế tình trạng vi phạm an toàn giao thông, nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật giao thông của người tham gia giao thông, đưa hoạt động tham gia giao thông của người dân đi vào nề nếp.

Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông; Chỉ thị số 09-CT/TU ngày 02/02/2016 của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh. Ban Tuyên giáo Huyện ủy chủ trì phối hợp với các cơ quan chuyên môn xây dựng đề cương tuyên truyền tháng hành động về An toàn giao thông để tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân, như sau:

I. TÌNH HÌNH CÔNG TÁC ĐẢM BẢO TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRONG THỜI GIAN QUA

Các ngành chức năng đã triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp, giải pháp cụ thể với chủ đề “xây dựng văn hóa giao thông trong thanh, thiếu niên” và trên tinh thần “Tính mạng con người là trên hết”. Nhằm đảm bảo TTATGT và kiểm soát có hiệu quả tình trạng vi phạm trật tự an toàn giao thông của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông trên địa bàn huyện.

Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về đảm bảo TTATGT, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong ý thức và trách nhiệm chấp hành Luật Giao thông, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông xảy ra. Công an huyện đã phối hợp xây dựng 03 phóng sự, tổ chức 06 buổi tuyên truyền, 07 lượt tuyên truyền lưu động Luật giao thông đường bộ. Tổ chức cho 301 hộ kinh doanh vận tải ký cam kết đảm bảo TTATGT. Tăng cường công tác tuần tra kiểm soát, xử lý kịp thời với các hành vi vi phạm TTATGT; tổng kiểm soát, xử lý chuyên đề xe mô tô, xe gắn máy vi phạm về TTATGT, trật tự công cộng và mang theo hung khí, vũ khí trái phép khi tham gia giao thông; tổng kiểm soát, xử lý xe ô tô chở người, mô tô, xe máy vi phạm TTATGT trong dịp hè; xử lý xe ô tô vi phạm chở hàng quá trọng tải trên tuyến đường bộ, tổng kiểm soát các phương tiện ô tô có sử dụng nồng độ cồn và ma túy,....

Tuy nhiên tình trạng vi phạm TTATGT trên địa bàn huyện vẫn còn xảy ra và có chiều hướng diễn biến phức tạp. Trong 6 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn huyện xảy ra 10 vụ, làm chết 11 người, bị thương 8 người; so với cùng kỳ năm 2016 tăng 2 vụ (10/8), tăng 2 người chết (11/9), tăng 2 người bị thương (8/6). Trong đó: 04 vụ xảy ra trên đường Hồ Chí Minh, 3 vụ xảy ra trên Quốc lộ 21A và 3 vụ xảy ra trên đường liên thôn; có 07 vụ tại nạn giữa xe ô tô với xe mô tô (02 vụ xe đầu kéo), 01 vụ làm chết tại chỗ 02 người.

Tình hình TTATGT đường thủy nội địa được đảm bảo an toàn, 6 tháng đầu năm 2017 không xảy ra vụ tai nạn giao thông đường thủy nào.

Trong 6 tháng đầu năm 2017, các lực lượng Công an huyện đã tổng kiểm tra 629 lượt phương tiên, phát hiện 552 trường hợp vi phạm, ra quyết định xử phạt tại chỗ 346 trường hợp, lập biên bản 206 trường hợp, tạm giữ 178 xe mô tô, 37 giấy phép lái xe, tước 06 giấy phép lái xe, xử phạt 553 trường hợp = 223.520.000đ nộp ngân sách nhà nước. Các hành vi vi phạm TTATGT chủ yếu là vi phạm trong quá trình tham gia giao thông của các loại xe ô tô, mô tô; vi phạm hành lang giao thông, lấn chiếm vỉa hè, lòng đường, lề đường vẫn còn phổ biến; vi phạm của thanh, thiếu nên điều khiển các loại xe gắn máy kể cả xe đạp điện và xe máy điện; chở quá số người quy định; không đội mũ bảo hiểm; vi phạm về nồng độ cồn; chở quá trọng tải, chạy quá tốc độ ...

II. MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU TRONG THÁNG HÀNH ĐỘNG VỀ ATGT

1. Mục tiêu

- Tiếp tục triển khai  hiệu quả Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo TTATGT đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông; Chỉ thị số 09-CT/TU, ngày 02/2/2016 của Tỉnh ủy về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác đảm bảo TTATGT trên địa bàn huyện.

- Huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong công tác đảm bảo TTATGT; nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong việc chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về TTATGT, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về TTATGT và phong trào toàn dân đoàn kết tham gia đảm bảo TTATGT tại địa bàn cơ sở.

- Đảm bảo TTATGT trên địa bàn huyện an toàn, thông suốt; phòng ngừa, kiềm chế, làm giảm tai nạn giao thông trên cả 3 tiêu chí về số vụ, số người chết, số người bị thương; không để xảy ra ùn tắc giao thông góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

2. Các giải pháp và hoạt động chủ yếu

- Đẩy mạnh tuyên truyền Tháng hành động về An toàn giao thông năm 2017 trên địa bàn huyện.

- Thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả các mặt công tác, trọng tâm là công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm TTATGT; công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia đảm bảo TTATGT tại địa bàn cơ sở.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông, đồng thời lựa chọn hình thức và nội dung tuyên truyền phù hợp theo từng nhóm đối tượng để đạt hiệu quả cao nhất; tổ chức các hoạt động tuyên truyền gắn với chủ đề “Xây dựng văn hóa giao thông trong thanh, thiếu niên” và tinh thần “Tính mạng con người là trên hết”; đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền ngay từ cấp xã, phường để nâng cao ý thức chấp hành Luật Giao thông đường bộ trong mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời xây dựng các phóng sự, bản tin tuyên truyền; đăng tải các hoạt động đảm bảo trật tự an toàn giao thông của lực lượng chức năng trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân trên địa bàn huyện nắm rõ và thực hiện nghiêm túc…

- Đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về trật tự an toàn giao thông trên địa bàn huyện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông như: Lạng lách, đánh võng; không đội mũ bảo hiểm; chở quá số người quy định; chạy quá tốc độ quy định; vi phạm nồng độ cồn,… phối hợp thực hiện nghiêm túc công tác kiểm soát tải trọng trên các tuyến giao thông trọng điểm.

- Tổ chức khai thác hiệu quả hạ tầng giao thông hiện có gắn liền với đầu tư, nâng cấp hạ tầng giao thông ngày càng hiện đại; thúc đẩy phát triển phương tiện giao thông công cộng; rà soát, đề xuất xử lý những điểm đen và các điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông; điều chỉnh hệ thống biển báo hiệu đường bộ không phù hợp.

- Tập trung kiểm tra xử lý mạnh theo các chuyên đề và hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra TNGT và ùn tắc giao thông…. tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý các hành vi vi phạm TTATGT; tăng cường công tác bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ…

III. MỘT SỐ KHẨU HIỆU TUYÊN TRUYỀN

1. An toàn giao thông là trách nhiệm của mỗi người!

2. Đội mũ bảo hiểm đúng quy định khi đi xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện!

3. An toàn giao thông là hạnh phúc của mọi nhà!

4. Thanh, thiếu niên huyện Lạc Thủy tự giác chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về TTATGT!

5. Không lấn chiếm hành lang ATGT đường bộ!

6. Hãy nói không với rượu, bia khi tham gia giao thông!

7. Tuân thủ tốc độ khi lái xe!

8. Điều khiển xe đi đúng phần đường, làn đường quy định!

9. Phương tiện vận tải hành khách trên sông phải tuân thủ và thực hiện đúng luật giao thông đường thủy!

 

Biên tập: Quách Thị Hải Thanh

Kỹ thuật: Nguyễn Thị Hồng Thắm

Để triển khai một cách đồng bộ, toàn diện có hiệu quả việc đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trong thời gian Lễ Quốc khánh 2/9 và khai giảng năm học mới 2017 - 2018 trên địa bàn huyện Lạc Thuỷ. Ủy ban nhân dân huyện yêu cầu các cơ quan, đơn vị thực hiện một số nhiệm vụ như sau:

- Thông tin, tuyên truyền nội dung công điện hỏa tốc số 1224/CĐ-TTg ngày 17/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ về đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trong thời gian Lễ Quốc khánh 2/9 và khia giảng năm học mới 2017 – 2018 đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, học sinh, sinh viên trên địa bàn huyện .

- Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các Văn bản chỉ đạo, Văn bản hướng dẫn liên quan về các kiến thức, quy định về trật tự, an toàn giao thông; Chế tài xử lý các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông, nhất là vi phạm về nồng độ cồn, đi sai phần đường, làn đường, chở quá số người quy định, sử dụng phương tiện quá niên hạn kiểm định, chạy xe quá tốc độ cho phép, không có giấy phép lái xe, không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông; Các biện pháp phòng ngừa tai nạn giao thông; Cách giải quyết, khắc phục sự cố, tai nạn xảy ra.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền “Tháng cao điểm an toàn giao thông cho học sinh đến trường – tháng 9”; Các biện pháp đẩm bảo trật tự, an toàn giao thông tại khu vực trường học, không để xảy ra ùn tắc giao thông trong ngày khai giảng; Trong đó lưu ý đẩm bảo an toàn cho học sinh đến trường tại các nơi trường học bị ảnh hưởng mưa lũ vừa qua.

- Đăng tải các tin, bài, phóng sự, ký sự, các chuyên mục về an toàn giao thông; Tăng cường thời lượng phát sóng các chương trình, phóng sự phổ biến các quy định về trật tự, an toàn giao thông. kẻ vẽ treo pano áp phích, treo băng khẩu hiệu qua đường để tuyên truyền “Tháng cao điểm an toàn giao thông cho học sinh đến trường – tháng 9”; Cảnh báo nguy cơ mất an toàn và ùn tắc giao thông trong thời gian Lễ Quốc khánh 2/9; Công bố rộng rãi số điện thoại đường dây nóng để tiếp nhận các ý kiến phản ánh của người dân về tình hình trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn.

- Tuyên truyền, vận động người dân sử dụng các phương tiện vận tải hành khách công cộng, hạn chế đi lại bằng phương tiện cá nhân, nhất là những chuyến đi có cự ly dài, trên các quốc lộ trọng điểm có lượng lưu thông lớn.

Biên tập: Quách Thị Hải Thanh

Kỹ thuật: Hồng Thắm