gioiitieuchung

lichsuvanhoa

dialyhanhchinh

dieukientunhien

TRUYENTHANH

TRUYENHINH

 cttdt

i 02

hoi dap

 timhieuphapluat

CUM CONG NGHIEP

22222222222

33333

Du lịch Lạc Thủy

img

309693
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
649
789
3539
302095
20767
23073
309693

Your IP: 23.20.50.146
2017-07-28 18:47

           Nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về truyền thống vẻ vang 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang (LLVT) tỉnh Hoà Bình. Ban Tuyên giáo Huyện uỷ sao gửi đề cương tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống LLVT tỉnh Hoà Bình (16/8/1947 – 16/8/2017) do Phòng Chính trị - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh biên soạn với các nội dung sau:

 

 

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

Kỷ niệm 70 năm ngày Ngày truyền thống LLVT tỉnh Hoà Bình

(16/8/1947 - 16/8/2017)

          Nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Tỉnh đội - ngày truyền thống LLVT tỉnh Hòa Bình (16/8/1947 - 16/8/2017); để ôn lại lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc và LLVT tỉnh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhằm cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ LLVT, các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ tỉnh Hòa Bình tiếp bước cha anh, phát huy truyền thống hào hùng của dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới. Phòng Chính trị - Bộ CHQS tỉnh biên soạn “Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Tỉnh đội - ngày truyền thống LLVT tỉnh (16/8/1947 - 16/8/2017)” làm tài liệu để tuyên truyền lịch sử, truyền thống 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của LLVT trong cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

Phần I:

LLVT TỈNH HOÀ BÌNH 70 NĂM XÂY DỰNG,

CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH

Hoà Bình là tỉnh miền núi, nơi tiếp giáp giữa đồng bằng Bắc bộ với vùng Tây Bắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến l­ược trong lịch sử dựng n­ước và giữ n­ước của dân tộc. Nhân dân các dân tộc Hoà Bình có truyền thống đoàn kết keo sơn, lòng yêu nước nồng nàn, cần cù lao động, bất khuất trong đấu tranh chế ngự thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm. Trong lịch sử dựng nước và giữ n­ước, từ triều đại của Nhà nước Văn Lang cho đến các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Quang Trung Nguyễn Huệ... nhân dân Hòa Bình đã tích cực tham gia, hưởng ứng, ủng hộ sự nghiệp giành độc lập dân tộc.

Năm 1858, thực dân Pháp mở đầu cuộc xâm l­ược nư­ớc ta, nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nư­ớc trong phong trào Cần Vương nhất tề đứng lên chống thực dân Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ở các địa phương trong tỉnh liên tiếp nổi dậy đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột của bọn đế quốc, tay sai bán nước, tiêu biểu như: tích cực tham gia các cuộc kháng chiến cần vương của nghĩa quân Đốc Ngữ ở sông Đà, Đốc Tam ở Lạc Thủy, Đinh Công Uy ở Kỳ Sơn, Lương Sơn (1886 - 1892), cuộc khởi nghĩa của Tổng Kiêm, và Đốc Bang (1909) ở vùng Lương Sơn, Kỳ Sơn ...

Từ khi có Đảng, Bác Hồ chỉ lối, soi đ­ường, nhân dân các dân tộc Hòa Bình một lòng, một dạ đi theo Đảng, cùng với nhân dân cả nư­ớc anh dũng chiến đấu, hy sinh, lập nên những chiến công hiển hách, đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhân dân các dân tộc trong tỉnh luôn giữ vững bản chất cách mạng, liên tục hoàn thành các mục tiêu phát triển KT-XH, QP-AN, xây dựng tỉnh ngày càng giàu mạnh.

I. SỰ HÌNH THÀNH CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG, CÁC CHIẾN KHU CÁCH MẠNG VÀ CÁC ĐỘI VŨ TRANG LÀM NÒNG CỐT CÙNG NHÂN DÂN ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN THÁNG 8 NĂM 1945.

1. Sự hình thành các tổ chức cách mạng của Đảng.

Tháng 8/1929, ánh sáng cách mạng vô sản được truyền bá vào Hòa Bình, do đồng chí Đào Gia Lưu, cán bộ hoạt động bí mật của Đông Dương Cộng sản Đảng Tỉnh ủy Nam Định bị thực dân Pháp điều lên dạy học tại huyện Lạc Sơn. Nhân việc đó, đồng chí được giao nhiệm vụ tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, gây dựng cơ sở cách mạng trên địa bàn Hòa Bình. Sự kiện trên mang ý nghĩa lịch sử, đánh dấu ánh sáng cách mạng đã truyền tới tỉnh Hòa Bình.

Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, như một luồng gió mạnh thổi bùng lên phong trào đấu tranh cách mạng sôi động, rộng khắp trong cả nước. Ở tỉnh Hòa Bình, ngày 1/12/1930, Tổ đảng Hoàng Đồng, thuộc Chi bộ Thanh Khê - Trung Trữ, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình được thành lập tại xã Khoan Dụ, huyện Lạc Thuỷ. Tổ Đảng đi vào hoạt động và đã ảnh hưởng sâu đậm trong nhân dân địa phương. Đây là dấu son trong tiến trình đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình.

Trong phong trào đấu tranh dân chủ (1936 - 1939), nhiều cơ sở cách mạng được xây dựng, phát triển mạnh mẽ và kiên cường, đứng vững qua các cuộc khủng bố, áp bức quyết liệt của thực dân, phong kiến; đồng thời đã vận động tập hợp quần chúng đấu tranh chống bọn quan lang, địa chủ, cường hào giành thắng lợi, góp phần cổ vũ phong trào đấu tranh dân chủ đòi tự do ở tỉnh Hòa Bình.

Tháng 5/1941, Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị lần thứ 8, đề ra nhiệm vụ chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Tháng 8/1941, Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ lần lượt cử cán bộ đến Hòa Bình hoạt động, tuyên truyền vận động nhân dân, xây dựng cơ sở, đẩy mạnh phong trào cách mạng. Đến năm 1943, chi bộ đảng trong Nhà tù Hòa Bình trực thuộc Trung ương Đảng được thành lập, do đồng chí Lê Đức Thọ làm Bí thư. Cuối năm 1943, Mặt trận Việt Minh tỉnh Hòa Bình được thành lập. Cuối năm 1944, đầu năm 1945, các cơ sở cách mạng được xây dựng tại thị xã Hòa Bình, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, phố Vãng, huyện Mai Châu, Nật Sơn, huyện Kim Bôi. Tháng 1/1945, Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh Hòa Bình, chỉ định đồng chí Vũ Thơ giữ chức Bí thư. Đến 1/5/1945, chi bộ Đảng thị xã Hoà Bình được thành lập, gồm 3 đảng viên, do đồng chí Nguyễn Đình Khanh làm Bí thư (Đây là tổ chức cơ sở Đảng đầu tiên ở tỉnh Hoà Bình).

2. Sự hình thành các chiến khu cách mạng và đội tự vệ cứu quốc.

Tháng 2/1945, Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, quyết định thành lập các chiến khu trên cả nước và chỉ thị cho các tỉnh chuẩn bị tích cực công tác khởi nghĩa. Thực hiện chủ trương của Trung ương, Ban Cán sự Đảng tỉnh phối hợp với Ban cán sự Đảng các tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình thành lập chiến khu Hòa - Ninh - Thanh (Chiến khu Quang Trung); đồng thời quyết định xây dựng 4 chiến khu các mạng trên địa bàn tỉnh và đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang.

Căn cứ cách mạng Tu Lý - Hiền Lương: Nằm trên địa bàn 2 xã Tu Lý và Hiền Lương, huyện Đà Bắc. Đây là chiến khu cách mạng đầu tiên của tỉnh Hoà Bình được thành lập tháng 2/1945, với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng LLVT địa phương của tỉnh. Tại đây, tổ chức vũ trang đầu tiên chính thức ra mắt và hoạt động, do đồng chí Vũ Thơ trực tiếp huấn luyện, sau 7 ngày (từ 16 đến 22/02/1945) lớp học kết thúc, sau đó phong trào cách mạng trong vùng phát triển mạnh mẽ (trong tháng 4 và tháng 5 đã hình thành 3 đội tự vệ cứu quốc là: Giáp Thượng và Giáp Hạ do đồng chí Hà Văn Nông chỉ huy với 23 đội viên với 2 khẩu súng và gậy gộc giáo mác; đội tự vệ dân tộc Dao ở Toàn Sơn do Triệu Phúc Lịch chỉ huy với 20 đội viên và đội tự vệ cứu quốc Hiền Lương do đồng chí Bình Huấn chỉ huy với 21 đội viên). Trong khởi nghĩa tháng 8/1945, lực lượng cách mạng chiến khu Tu Lý và Hiền Lương đã đóng vai trò quan trọng giành chính quyền ở tỉnh lỵ ngày 23/8/1945.

Căn cứ cách mạng Mường Diềm: Thuộc xã Hào Tráng huyện Đà Bắc (nay đã bị ngập dưới lòng hồ sông Đà)[1]. Được Ban cán sự Đảng tỉnh Hoà Bình thành lập tháng 4/1945, với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng và huấn luyện lực lượng vũ trang cách mạng với 100 người, trang bị 50 súng trường, 2 đại liên, ở các làng trong Chiến khu đều lập được các tổ tự vệ cứu quốc từ 10 dến 15 đội viên. Xây dựng thành công Chiến khu Mường Diềm là thắng lợi lớn của phong trào cách mạng ở Hòa Bình; lôi kéo được quan lang, có quần chúng Nhân dân, có lực lượng vũ trang.

Căn cứ cách mạng Cao Phong - Thạch Yên: Thuộc 2 xã Cao Phong và Thạch Yên huyện Kỳ Sơn, (nay thuộc xã Yên Lập và Yên Thượng, huyện Cao Phong), được thành lập tháng 4/1945[2], với nhiệm vụ xây dựng và huấn luyện lực lượng vũ trang cách mạng với 30 tự vệ cứu quốc thị xã đưa vào làm nòng cốt. Kết thúc khóa huấn luyện, các học viên tỏa về các xóm, mỗi người tự lo tìm người vận động; tổ chức và huấn luyện một Tiểu đội (đến tháng 7/1945 xây dựng được 30 tiểu đội tự vệ cứu quốc với hàng trăm đội viên). Thanh thế của Việt Minh đã động viên tinh thần cách mạng của Nhân dân trong vùng; đã hỗ trợ đắc lực cho khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh lỵ Hoà Bình thắng lợi vào ngày 23/8/1945.

Căn cứ cách mạng Mường Khói: Thuộc 2 xã Hoài Ân và Hiếu Nghĩa (nay thuộc xã Ân Nghĩa và Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn), được thành lập sau Hội nghị  tháng 4/1945 của Ban cán sự Đảng tỉnh Hòa Bình, nhằm nối liền phong trào cách mạng Hòa Bình với Chiến khu Quỳnh Lưu, Ninh Bình, có nhiệm vụ xây dựng và huấn luyện lực lượng cách mạng ở địa phương. Tại Chiến khu đã xây dựng được 02 đội tự vệ cứu quốc, các tổ chức quần chúng cách mạng được hoạt động công khai. Cuối tháng 7/1945, Xứ uỷ Bắc Kỳ quyết định chọn Mường Lọt (thuộc chiến khu Mường Khói) để mở lớp huấn luyện quân sự. Lớp học được mang tên "Trường Sơn du kích kháng Nhật học hiệu" với 26 học viên là cán bộ lãnh đạo quân sự của các tỉnh Sơn La, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nội, Hòa Bình, Thái Bình do đồng chí Vương Thừa Vũ phụ trách.

Đến tháng 8/1945, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang cách mạng tỉnh Hòa Bình phát triển mạnh mẽ, nhất là ở vùng nông thôn Mai Đà, Lương Sơn, Kỳ Sơn, huyện Lạc Thủy, phố Vãng, huyện Mai Châu, thị trấn Vụ Bản, thị xã Hòa Bình và Châu Lạc Thủy.

3. Nhân dân các dân tộc Hòa Bình trong phong trào đấu tranh giành chính quyền tháng 8/1945.

Ngày 14/8/1945, Phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc, tạo thời cơ giành độc lập dân tộc cho nhân dân Việt Nam. Đón nhận thời cơ cách mạng nghìn năm có một, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) từ 13 đến 15/8/1945, quyết định phát động nhân dân cả nước đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 16/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa.

Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Bắc kỳ và Ban Cán sự đảng tỉnh Hoà Bình, từ Chiến khu Mư­ờng Khói, lực lư­ợng chính trị, lực lượng vũ trang làm nòng cốt cùng đông đảo quần chúng nhân dân đứng lên khởi nghĩa tiến ra châu lỵ Lạc Sơn và tỉnh lỵ Hoà Bình, đập tan bộ máy ngụy quyền tay sai của giặc Nhật, giành chính quyền thắng lợi ngày 23/8/1945, lập nên y ban Cách mạng lâm thời các cấp. Chỉ trong vòng 10 ngày khởi nghĩa (Từ 17 đến 26/8/1945), kỷ nguyên mới, nhân dân đứng lên làm chủ vận mệnh đất nước bắt đầu[3].

II. ANH DŨNG KIÊN CƯỜNG VƯỢT QUA MỌI KHÓ KHĂN THÁCH THỨC, XÂY DỰNG LLVT LÀM NÒNG CỐT CÙNG NHÂN DÂN CHIẾN ĐẤU, PHỤC VỤ CHIẾN ĐẤU GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1946 - 1954).

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền nhân dân các cấp ở Hòa Bình vừa được thành lập đã phải đối phó quyết liệt với 3 thứ giặc: “gặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Trước tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc”, quán triệt sâu sắc chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc” của Trung ương Đảng, Chỉ thị của Liên khu uỷ 3 và Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Hoà Bình, phong trào toàn dân xây dựng LLVT ngày càng sôi nổi, rộng khắp. Sau cách mạng tháng 8/1945 nhân dân chủ yếu tham gia vào các đội tự vệ cứu quốc, đoàn thể cứu quốc… Vì vậy, năm 1946 quân và dân các dân tộc Hoà Bình đã đập tan âm mưu và hành động của bọn phản động, lập chiến công xuất sắc bảo vệ an toàn chính quyền non trẻ.

Thực dân Pháp bộc lộ rõ âm mưu cướp nước ta một lần nữa. Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Tháng 2/1947, Bộ Quốc phòng ra thông tư quy định: Vào dân quân là nghĩa vụ của mọi công dân từ 18 đến 45 tuổi. Ở thôn và xã có 2 lực lượng là dân quân và du kích, đây là những lực lượng chiến đấu do nhân dân trang bị và đảm bảo bằng cách dựa vào sự đóng góp của nhân dân. Tháng 3/1947, Chính phủ quyết định xây dựng các ban chỉ huy tỉnh đội, huyện đội, xã đội dân quân thuộc Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp. Tháng 4/1947, Trung ương Đảng ra quyết định về xây dựng lực lượng dân quân du kích, tự vệ.

Thực hiện chủ trương của Trung ương, Chính phủ và Bộ Quốc phòng, để đáp ứng yêu cầu kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp xâm lược, ngày 16/8/1947, đồng chí Lê Đông, Bí thư Tỉnh ủy triệu tập Hội nghị Tỉnh ủy tại xóm Khị, xã Nhân Nghĩa, huyện Lạc Sơn để kiểm điểm tình hình hoạt động của các ngành, các địa phương, về phát triển đảng viên mới và phong trào dân quân du kích trên các xã, tuyến đường huyết mạch; Hội nghị quyết định thành lập Tỉnh đội dân quân Hòa Bình.

Sau Hội nghị Tỉnh ủy, cơ cấu tổ chức Tỉnh đội dân quân bước đầu được hình thành. Đồng chí Vũ Hoàng Diệp giữ chức Tỉnh đội trưởng, đồng chí Lê Thi giữ chức Chính trị viên[4]. Tỉnh đội dân quân Hòa Bình đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Tỉnh ủy, chịu sự chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Chiến khu 2. Tỉnh đội dân quân có nhiệm vụ chỉ huy LLVT địa phương thực hiện nhiệm vụ quân sự, chiến đấu và tham gia vào các nhiệm vụ kháng chiến của địa phương...

Sau khi thành lập Tỉnh đội dân quân, từ tháng 9 đến tháng 12/1947, Ban chỉ huy huyện và xã đội dân quân được xây dựng; lực lượng dân quân du kích cũng hình thành và phát triển nhanh, rộng khắp. Đến cuối năm 1947, toàn tỉnh xây dựng được 10 trung đội du kích tập trung của tỉnh và huyện, với 2.764 đội viên. Nhiều xã tổ chức ra các đơn vị du kích tập trung với số lượng lên tới trên 1.000 người. Ban chỉ huy quân sự các cấp làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương về công tác quân sự, tổ chức quản lý huấn luyện và chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương thực hiện nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ chính quyền cơ sở.

Ngày 15/4/1947, thực dân Pháp mở đợt tấn công đánh chiếm Hoà Bình lần thứ nhất. Sau 45 ngày (từ 15/4 đến 30/5/1947), chúng đã chốt giữ được Phương Lâm (thị xã Hoà Bình), Chợ Bờ (Châu Mai Đà, nay thuộc huyện Đà Bắc), Suối Rút, Vạn Mai, Bản Nghẹ, Đồng Uống, Chiềng Sại, Bao La, Mó Hém (Châu Mai Đà, nay thuộc huyện Mai Châu), hình thành hành lang phía tây, đồng thời gấp rút xây dựng hành lang Đông - Tây, bắt lính, thực hiện thủ đoạn chính trị lập "Xứ Mường tự trị" để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc chống Pháp. Đến cuối năm 1948, thực dân Pháp đã chiếm đóng 2/3 diện tích tỉnh Hòa Bình.

Trước tình hình đó, phong trào chống Pháp trong tỉnh được đẩy mạnh, phát triển chiến tranh du kích, diệt tề… Nhiều đội du kích lập công xuất sắc như: đội du kích Yên Lương, Phú Lẫm (nay là xã Phú Lương - huyện Lạc Sơn) đã lập công xuất sắc ngày 30/10/1948, tiêu diệt và làm mất sức chiến đấu nhiều tên địch bằng rượu cần lá Ngón; dân quân du kích Cộng Hoà - Lạc Sơn có 60 đội viên, đã tổ chức tiêu diệt lính Âu Phi, thu được súng tiểu liên.

Thu - Đông năm 1949, Liên khu III quyết định mở chiến dịch Lê Lợi ở Hoà Bình, nhằm tiêu diệt một phần sinh lực địch, giải phóng đất đai, phá âm mưu lập "Xứ Mường tự trị" của Pháp, tạo điều kiện cho chiến tranh du kích và trưởng thành của bộ đội địa phương. Chiến dịch Lê Lợi mở màn ngày 25/11/1949, du kích các địa phương đã phối hợp với bộ đội chủ lực thực hiện vây đồn, diệt viện, tiến công hàng loạt vị trí của địch tại mặt trận đường 6, như: Đồng Bến, Gò Bùi và thị xã Hoà Bình; tại mặt trận đường 12A, ta đánh các đồn Vụ Bản, Chiềng Vang, đồn Riệc; mặt trận sông Đà gồm các vị trí Mó Hém, Suối Rút, Chợ Bờ mà địch chốt giữ. Kết quả ta tiêu diệt 10 đồn, bức rút 13 đồn, diệt 876 tên địch, phá 37 xe vận tải, 4 xe gíp, giải phóng một khu vực rộng 2.000 km2, phá vỡ một đoạn dài 50 km hành lang Đông - Tây của địch. Toàn bộ vùng Mai Châu, Đà Bắc, đường 15 và một phần huyện Lạc Sơn (nay thuộc huyện Tân Lạc) được giải phóng. Dọc theo đường 12A, ta cô lập Vụ Bản, Chiềng Vang, Cao Phong, tạo thế uy hiếp quân địch ở Thị xã Hòa Bình. Quân địch bị thất bại nặng nề và lần lượt rút khỏi các vị trí ở Hoà Bình. Ngày 8/11/1950, Hoà Bình được giải phóng lần thứ nhất. Tháng 11/1950, Bác Hồ gửi thư khen chiến sĩ và cán bộ Hòa Bình: “Các chú đã đánh bật địch ra khỏi Hòa Bình. Bác vui lòng thay mặt chính phủ khen ngợi các chú”…

Không từ bỏ âm mưu đánh chiến Hoà Bình, thực dân Pháp lại tập trung lực lượng đánh chiến Hoà Bình lần thứ hai bằng 2 cuộc hành quân “Tuy - Líp” và “Lô - Tuýt”, nhằm nối lại hành lang Đông - Tây, lập lại “Tam giác sắt”: Hà Nội - Sơn Tây - Hòa Bình. Từ ngày 9 đến 14/11/1951, địch đánh chiếm được các mục tiêu, xây dựng 20 cụm cứ điểm theo dọc đường 21 từ Xuân Mai đến Chợ Bến và từ Ba Thá vào Miếu Môn, hình thành 2 tuyến phòng thủ đường 21, đường 6 và nối lại hành lang Đông - Tây.

Do yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và đặc điểm cụ thể của tỉnh Hòa Bình, ngày 15/2/1951, thực hiện Quyết định số 1128/TCH của Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, Tỉnh đội Hoà Bình giải thể, chuyển sàng thành lập Trung đoàn 12, vừa đảm nhiệm chức năng tham mưu cho Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh về công tác quân sự, vừa trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang tỉnh tác chiến, chiến đấu. Ban Chỉ huy Tỉnh đội được điều chỉnh trở thành cơ quan Trung đoàn, do đồng chí Võ An Khang giữ chức Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Đình Khanh - Chính trị viên, đồng chí Đinh Công Niết - Trung đoàn phó, đồng chí Lê Văn Long - Tham mưu trưởng. Trung đoàn 12 gồm có Tiểu đoàn 616 tập trung gồm 5 đại đội địa phương của các huyện: c121 (Lương Sơn), c112 (Lạc Sơn), c116 (Mai Đà), c16 (Kỳ Sơn); Đại đội 39 trợ chiến và Đại đội 100 cảnh vệ, là những đơn cơ động chiến đấu. Các xã đội, bộ đội địa phương, dân quân du kích trên địa bàn chịu sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Ban Tỉnh uỷ, cấp uỷ của các địa phương và sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Chỉ huy Trung đoàn 12.

Ngày 24/11/1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị: “Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch”. Trước khi bước vào chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích: ...“Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta”... Chiến dịch Hòa Bình được thực hiện đánh địch trên cả 2 mặt trận chính diện và sau lưng địch[5]. Tổng Quân ủy và Bộ tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ đạo chiến dịch, Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Chiến dịch Hoà Bình được thực hiện bằng 2 đợt tiến công của quân và dân ta.

Đợt 1: Ngày 10/12/1951, tại mặt trận chính, LLVT và nhân dân Hòa Bình đã phối hợp với 3 Đại đoàn quân chủ lực 308, 304 và 312 tiến công 2 cụm quân chủ yếu của địch đóng ở Phân khu thị xã Hòa Bình và Phân khu sông Đà. Đại đội 16 (Kỳ Sơn), Đại đội 116 (Mai Đà) và du kích các xã Yên Mông, Hòa Bình tiến công Phân khu sông Đà, bí mật bố trí trận địa phục kích liên hoàn trên sông Đà từ xóm Mỵ (Yên Mông) đến Lạc Song (Phú Thọ), dài 6km, tiêu diệt 6 ca nô và 1 tàu chiến (LCT) cùng hàng trăm tên địch, góp phần cùng với các Đại đoàn 308, 312 và Đại đội pháo binh 786 cơ bản đập nát phòng tuyến trên sông Đà của địch.

Tiểu đoàn 616 của tỉnh phối hợp du kích xóm Chăm (xã Quỳnh Lâm) tiến công Phân khu thị xã, trận phục kích dốc Cun, phá huy 1 xe, tiêu diệt hàng chục tên địch, bẻ gãy cuộc tấn công của địch vào đường 12A; du kích xã Mông Hóa phối hợp với  Trung đoàn chủ lực 36 (Sư đoàn 308), phục kích địch tại cầu Mè, phá huy 34 xe địch, tiêu diệt nhiều địch; Tiểu đoàn 616 địa phương, Đại đội 16 (Kỳ Sơn) và du kích xóm Dụ (Mông Hóa) phối hợp với Tiểu đoàn 375 (Trung đoàn 66 - Đại đoàn 308) chặn địch ở dốc Kẽm, diệt 2 trung đội địch, phá hỏng 11 xe vận tải, giải thoát cho trên 100 đồng bào bị bắt đi phu; ngày 13/12/1951, bộ đội tỉnh phối hợp với Tiểu đoàn 353 (Trung đoàn 9 - Đại đoàn 304) đánh trận Giang Mỗ (xã Bình Thanh  huyện Kỳ Sơn) tiêu diệt và bắt sống hơn 1 Đại đội Âu - Phi, phá huy 5 xe cơ giới, 1 xe tăng. Trong trận này nổi lên tấm gương dũng cảm chiến đấu của anh hùng Cù Chính Lan.

Ngày 10/12/1951, Hồ Chủ tịch gửi thư khen các chiến sĩ trong chiến dịch Hòa Bình: “Bác rất vui lòng nhận được báo cáo thắng trận của các chú...Bác thân ái gửi lời khen các chú... Bác sẽ có giải thưởng cho chú nào và đơn vị nào lập công nhiều nhất”.

Đợt 2: Từ 27 đến 31/12/1951, thực hiện phương châm tác chiến của chiến dịch là: đánh điểm diệt viện, thực hiện liên tục chiến đấu, kiên quyết tích cực kiềm chế và diệt pháo địch. Các đơn vị bộ đội địa phương phối hợp với du kích và các đơn vị chủ lực Đại đoàn 304 tổ chức một số trận đánh cứ điểm trên đường 6 góp phần giữ vững được tuyến hành lang vận chuyển qua sông Đà, uy hiếp các trận địa của địch trên tuyến quốc lộ 6.

Đợt 3: Từ 7/1/1952 đến 25/2/1952, ta tập trung lực lượng vây đánh địch ở thị xã Hòa Bình và trên đường số 6A. Đêm 7/1/1952, du kích Quỳnh Lâm dẫn đường cho Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) tiến công đồn Pheo, Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) tập kích thị xã Hòa Bình, diệt các vị trí ngoại vi, ta hạ 6 đồn, tiêu diệt cụm pháo gồm 4 khẩu 105 ly, bắt sống 20 tên địch, trong đó có tên quan 3 chỉ huy.

Trước những đòn tiến  công mạnh mẽ của ta trên các hướng của chiến dịch, đường vận chuyển trên sông Đà và đường 6 bị ngừng trệ, quân địch ở Hòa Bình bị cô lập. Ngày 8/1/1952, địch phải rút toàn bộ lực lượng chốt ven sông Đà về tăng cường phòng thủ cho khu vực thị xã. Những ngày tiếp theo, các đơn vị bộ đội địa phương phối hợp và độc lập tác chiến diệt và bắt sống 100 tên đi càn trú đóng tại điểm cao 585; bẻ gãy cuộc càn quét lên Chợ Bờ; cắt hàng nghìn mét dây điện thoại địch ở đường 21; vận động hơn 50 binh lính địch mang vũ khí ra đầu hàng. Thế trận chiến tranh nhân dân lên cao, đẩy thực dân Pháp vào thế bị động, lúng túng ở mặt trận Hòa Bình, ngày 23/2/1952, địch buộc phải rút chạy, Thị xã Hòa Bình được giải phóng.

Sau hơn 3 tháng anh dũng chiến đấu khó khăn, gian khổ, hy sinh, chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi. Quân và dân trong tỉnh phối hợp, hiệp đồng với bộ đội chủ lực tiêu hao, tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực địch: 6.012 tên bị tiêu diệt, phá huy 156 xe các loại, 17 tàu chiến, ca nô, 12 khẩu đại bác; ta thu trên 800 khẩu súng, có 24 khẩu pháo cỡ lớn, 88 máy vô tuyến điện, 10 tấn đạn và 23.000 lít xăng dầu. Hoà Bình được giải phóng đã giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của Pháp.

Chiến công trong chiến dịch Hoà Bình là thành tích nổi bật nhất của Đảng bộ, quân và dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Nhân dân được sống trong tự do, càng thêm tin tưởng vào tương lai, cùng quân và dân cả nước làm nên thắng lợi của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

III. XÂY DỰNG LLVT VỮNG MẠNH, HOÀN THÀNH XUẤT SẮC NHIỆM VỤ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 - 1975).

1. LLVT tỉnh củng cố tổ chức, xây dựng thế trận phòng không nhân dân và tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh (1954 - 1964).

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta kết thúc thắng lợi. Hiệp định Giơ - ne - vơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm thời dưới ách thống trị của kẻ thù, vĩ tuyến 17 tạm thời là giới tuyến giữa 2 miền Nam - Bắc.

Do yêu cầu nhiệm vụ mới, tháng 6/1954, thực hiện chỉ thị của Liên khu ủy và Bộ Tư lênh Liên khu 3. Tỉnh đội Hòa Bình được thành lập trên cơ sở tách ra từ Trung đoàn 12. Ban Chỉ huy Tỉnh đội gồm 3 đồng chí: Nguyễn Văn Chí - Tỉnh đội trưởng, Đặng Xuân Dung - Chính trị viên và Nguyễn Văn Đắc - Tỉnh đội phó. Các Huyện - Thị đội, Xã đội cũng được kiện toàn. Mỗi huyện, thị xã thành lập một Trung đội bộ đội địa phương, lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên được xây dựng mang tính chất rộng khắp và được huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị đáp ứng yêu cầu tác chiến, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của dân quân tự vệ. Các cấp, các ngành, đoàn thể địa phương xác định rõ trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời chiến. Đến 1957, hầu hết các thôn xóm, bản làng có trung đội, tiểu đội dân quân, nhiều xã đã có đại đội dân quân, được huấn luyện giỏi về chiến thuật, nắm chắc về kỹ thuật, thông suốt về tư tưởng chính trị, nắm vững đường lối quân sự của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới.

Tháng 2/1962, Ban Chỉ huy Tỉnh đội phối hợp với lực lượng công an vũ trang nhân dân tổ chức lực lượng bắt gọn toán biệt kích gồm 5 tên nhảy dù xuống khu vực đồi Bục, đồi Chùa  thuộc địa phận xã Tử Nê, huyện Tân Lạc. Đây là thắng lợi đầu tiên của quân và dân Hoà Bình, làm thất bại một bước âm mưu tung gián điệp, biệt kích bắt liên lạc với bọn phản động địa phương, nhằm phá hoại miền Bắc của Đế quốc Mỹ.

Nắm vững tình hình và chuẩn bị đối phó với âm mưu tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ; thực hiện Nghị định 112 về tổ chức công tác phòng không nhân dân của Chính phủ, Chỉ thị 157 của Bộ Quốc phòng về công tác phòng không và Mệnh lệnh số 372 của Bộ Quốc phòng về việc bắn máy bay địch, Ủy ban hành chính tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo thành lập các ban phòng không nhân dân từ tỉnh đến xã, với phương châm mỗi làng bản là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ.

Đến tháng 8/1964, Tỉnh đội thành lập Đại đội 121 súng máy cao xạ 12,7 mm, do đồng chí Nguyễn Văn Cư và Bùi Đức Kiên chỉ huy. Tỉnh đội, các Huyện - Thị đội thành lập các phân đội pháo binh, đội súng máy cao xạ, tổ bắn máy bay bằng súng bộ binh, tổ công binh nhân dân để sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống địch bắn phá. Các phân đội thông tin, vận tải, trinh sát, quân báo, cứu thương, cứu sập, cứu hỏa, bảo đảm giao thông... được củng cố, kiện toàn và huấn luyện bổ sung. Dân quân các xã đều thành lập tổ bắn máy bay, với 40.472 đội viên, bằng 11,9% dân số, nhiều tổ được trang bị súng máy cao xạ 12,7 mm, phối hợp với bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực hình thành lưới lửa phòng không tầm thấp, sẵn sàng đáp trả các đợt phá hoạt của giặc Mỹ xâm lược.

Trong giai đoạn này, lực lượng bộ đội chủ lực của tỉnh và bộ đội địa phương huyện, thị xã còn tham gia hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở chính trị vùng đồng bào dân tộc, tham gia công tác cải cách dân chủ và cùng nhân dân xây dựng các công trình thủy lợi, chống hạn, chống úng, phòng chống lụt bão, trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm nghiệp... LLVT tỉnh thực sự là công cụ, chỗ dựa tin cậy của cấp ủy và chính quyền ở địa phương.

2. LLVT và nhân dân tỉnh Hòa Bình kiên cường chiến đấu, cùng nhân dân cả nước đánh thắng chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, chi viện cho chiến trường, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 1965 - 1975.

Tháng 2/1965, giặc Mỹ phát động chiến tranh đánh phá toàn Miền Bắc.

Đợt 1: Mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ trên địa bàn tỉnh, ngày 3/5/1965 chúng ném bom quốc lộ 12A, thuộc địa phận xã Lạc Lương, huyện Yên Thuỷ. Tiếp sau đó, các trục đường 6A, 12A, 15A, khu vực thị xã Hòa Bình, bến phà Bờ, suối rút, thị trấn vụ bản, các kho tàng trở thành những trọng điểm bị máy bay Mỹ đánh  phá rất ác liệt. Phong trào bắn máy bay bay thấp được các nơi sôi nổi hưởng ứng tham gia.

Ngày 31/5/1965, dân quân xã Liên Hòa - Lạc Sơn đã bắn rơi máy bay phản lực F4H của Mỹ bằng súng trường, mở đầu cho phong trào bắn máy bay Mỹ bằng súng bộ binh trong toàn Quân khu 3.

Những tháng đầu năm 1966, máy bay địch liên tục đánh phá các địa phương trong tỉnh, nhất là khu vực xã Thịnh Lang - Kỳ Sơn, Vạn Mai - Mai Châu, thị trấn Vụ Bản - Lạc Sơn và thị xã Hòa Bình. Với thế trận phòng không nhân dân và tinh thần chủ động chiến đấu, ngày 29/4/1966, dân quân xã Trung thành - Đà Bắc bí mật phục kích trên đồi cao, đón lõng bắn rơi 1 máy bay F101 của Mỹ bằng súng trường. Chiến công này càng thôi thúc tinh thần chủ động bắn rơi máy bay địch của các LLVT trong tỉnh.

Ngày 20/7/1966, bằng 2 loạt đạn súng trường, dân quân xã Thu Phong (huyện Kỳ Sơn) đã hạ được 1 máy bay F105. Chiều ngày 30/4/1967, tại Hoà Bình, cuộc chiến đấu giữa không quân ta và không quân địch diễn ra quyết liệt. Khi chiếc phản lực F105 của Mỹ hạ độ cao xuống thấp để tránh tầm bắn có hiệu quả của không quân ta, chớp thời cơ, các tay súng của trung đội dân quân xã Mường Chiềng - Đà Bắc phục sẵn trên núi liền nhả đạn, chiếc máy bay trúng đạn, bốc cháy.

Để chủ động ngăn chặn máy bay Mỹ, dân quân tự vệ các huyện Kỳ Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy, Lương Sơn và thị xã Hòa Bình, bộ đội thường trực của tỉnh ngày đêm kiên trì mai phục trên các điểm cao. Tuy chưa bắn rơi máy bay địch, nhưng đã làm hạn chế hiệu xuất ném bom, bắn phá của địch.

Đợt 2. Để cứu vãn Chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” khỏi bị phá sản, ngày 16/4/1972, đế quốc Mỹ lại sử dung không quân đánh phá Miền Bắc. Tỉnh Hoà Bình vẫn là trọng điểm đánh phá của không quân Mỹ. Trong 240 ngày đêm (Từ 16/4/1972 đến 29/12/1972), chúng đã huy động hàng nghìn lượt chiếc máy bay đánh phá vào 57 xã và các trục đường giao thông trên toàn tỉnh, làm hàng trăm người chết, hàng trăm nhà dân và nhiều cơ sở kinh tế, văn hoá bị phá huỷ.

Với tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, quân và dân tỉnh Hoà Bình đã phối hợp tốt với bộ đội chủ lực, chủ động đón đánh và liên tiếp đánh bại không quân Mỹ. Những ngày đầu tháng 5/1972, dân quân 2 xã Lũng Vân và Bắc Sơn, huyện Tân Lạc đã dũng cảm đánh trả máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái, thu toàn bộ vũ khí trang bị. Ngày 21/8/1972, dân quân xã Lạc Long - Lạc Thuỷ kiên trì phục kích địch, bắn rơi 1 máy bay không người lái của giặc Mỹ. Trong 12 ngày đêm từ 18 đến 29/12/1972, chia lửa với quân dân Thủ đô Hà Nội, quân dân Hoà Bình liên tiếp lập chiến công giòn giã bắn rơi 3 máy bay Mỹ, bắt sống 5 giặc lái. Điển hình là trận chiến đấu tại Đồi Bù của dân quân xã Hợp Hoà, huyện Lương Sơn, trải qua 8 đêm liên tục trong điều kiện địa hình phức tạp, thời tiết khắc nghiệt, lực lượng dân quân dưới sự chỉ huy của Bộ CHQS tỉnh và Ban CHQS huyện đã kiên cường, dũng cảm bám sát vòng vây, đánh trả quyết liệt bắn rơi 01 máy bay H53 của Mỹ.

LLVT và nhân dân tỉnh Hòa Bình vừa chiến đấu, vừa xây dựng và củng cố lực lượng. Thực hiện Nghị quyết 61 về công tác quân sự địa phương tại các ngành, các đơn vị cơ sở, ngày 12/10/1970, Tỉnh đội bắt đầu thống nhất tên gọi là Bộ CHQS tỉnh. Quân khu ủy bổ nhiệm đồng chí Bạch Bá Năng giữ chức Chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Hữu ích - Chính ủy Bộ CHQS tỉnh. Tổ chức biên chế Bộ CHQS tỉnh có các Phòng Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh, 4 đại đội binh chủng thông tin, trinh sát, công binh, kho tàng và bênh xá... trực thuộc. Cùng với việc kiện toàn Tỉnh đội, các huyên, thị đội cũng được thống nhất gọi là Ban CHQS huyện, thị xã. Bộ CHQS tỉnh, Ban CHQS các huyện, thị xã làm tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác quân sự, quốc phòng địa phương, đồng thời trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy LLVT thuộc quyền xây dựng, chiến đấu và công tác, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Công tác tuyển quân chi viện cho chiến trường đảm bảo chất lượng và vượt chỉ tiêu. Năm 1970 vượt 3.5%, đợt 1 năm 1971 đạt 107,4%, đợt 2 năm 1971 đạt 107.77% kế hoạch, tiến hành giao quân nhanh, gọn. Kết quả tuyển quân đã được Chính phủ biểu dương về thành tích động viên tuyển quân 6 tháng đầu năm 1971; đồng thời có ý nghĩa chính trị to lớn, mở đầu cho công tác động viên, tuyển quân sau này.

Với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, trong 2 năm 1973, 1974, Hòa Bình tiếp tục hoàn thành vượt mức nhiệm vụ động viên tuyển quân, trung bình mỗi năm có gần 3.000 thanh niên nam, nữ nhập ngũ, lên đường  vào miền Nam chiến đấu. Tháng 3/1975, có 553 thanh niên các dân tộc lên đường nhập ngũ. Hòa Bình là 1 trong 6 tỉnh ở phía Bắc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân, năm 1975 có 10 huyện, thị xã được Bộ Tư lênh Quân khu tặng cờ thi đua “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân năm 1975”.

IV. LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH HÒA BÌNH HỢP NHẤT VỚI LLVT TỈNH HÀ TÂY, THỰC HIỆN TỐT NHIỆM VỤ KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC XHCN (1976 - 1991).

Đất nước được hoàn toàn thống nhất, trên địa bàn tỉnh đời sống của nhân dân còn nghèo, hậu quả chiến tranh để lại vô cùng nặng nề. Từ yêu cầu nhiệm vụ cách mạng mới, ngày 16/1/1976, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 23 về việc hợp nhất Bộ CHQS tỉnh Hà Tây và Bộ CHQS tỉnh Hòa Bình thành Bộ CHQS tỉnh Hà Sơn Bình. Đồng chí Lê Hiền Hữu giữ chức Chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Ngọc Diệp - Chính ủy, đồng chí Nguyễn Văn Chí - Chỉ huy phó, Đồng chí Lê Thanh Quang - Chỉ huy phó quân sự.

Từ tháng 5/1975 đến tháng 12/1986, LLVT tỉnh tập trung thực hiện nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng LLVT, chi viện mặt trận biên giới Tây - Nam và biên giới phía Bắc.

Thực hiện Nghị quyết số 250 ngày 17/3/1976 của Bộ Chính trị về lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng kinh tế. Bộ CHQS tỉnh chỉ đạo điều chỉnh tổ chức biên chế, chuyển các Trung đoàn 12, 587, 541 và 588 sang chuyên xây dựng kinh tế, nhiệm vụ chủ yếu là phát triển nông nghiệp, nghề rừng, nghề cá, làm được giao thông, nhận thầu một số công trình thuỷ lợi: công nghiệp dân dụng trên quy mô lớn, đẩy mạnh tăng gia tự túc một phần lương thực, thực phẩm.

Năm 1977 và 1978, đất nước bị tấn công xâm lược ở biên giới Tây Nam, ở biên giới phía Bắc tình hình diễn biến rất phức tạp. Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Quân khu về chi viện cho mặt trận biên giới Tây Nam, Bộ CHQS tỉnh đã chỉ đạo các Trung đoàn 814, 52, 854 và 169 nhận lệnh động viên 10,683 tân binh lên đường đúng thời gian quy định, kịp thời chi viện cho các đơn vị chiến đấu ở Tây Ninh, sông Bé, An Giang và một số tỉnh ở Tây Nguyên.

Năm 1979, toàn tỉnh tuyển chọn 22.916 thanh niên nam, nữ nhập ngũ. Bàn giao Trung đoàn 514 cho Sư đoàn 326 Quân khu 2 tham gia chiến đấu tại Pa Tần, tỉnh lai Châu; giao Trung đoàn 169 cho tỉnh Cao Bằng; giao phần lớn cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 87 tăng cường cho hướng Tây Bắc với tổng quân số là 6.780 đồng chí.

Năm 1980 - 1986, tình hình biên giới phía Bắc tiếp tục diễn biến căng thẳng, LLVT và nhân dân xây dựng, củng cố hệ thống phòng thủ tỉnh. Tập trung xây dựng làng xã, cụm chiến đấu liên hoàn, xây dựng pháo đài quân sự huyện vững chắc. Sẵn sàng chiến đấu khi có tình huống.

V. PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ANH HÙNG, LLVT TỈNH HOÀN THÀNH XUẤT SẮC NHIỆM VỤ QUÂN SỰ, QUỐC PHÒNG ĐỊA PHƯƠNG (1991 - 2017).

Tháng 9 năm 1991 Quốc hội quyết định tách tỉnh Hà Sơn Bình thành 2 tỉnh Hà Tây và Hòa Bình. Thực hiện quyết định của Bộ Quốc phòng, tháng 9/1991, Bộ CHQS tỉnh chính thức được tái lập, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của Tỉnh ủy Hòa Bình. Đồng chí Bùi Thanh Điếm được bổ nhiệm giữ chức Chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Kiều Bào giữ chức Phó Chỉ huy trưởng về Chính trị; đồng chí Nguyễn Địa Chất - Phó Chỉ huy trưởng - Tham mưu trưởng; đồng chí Bùi Thế Lực giữ chức Phó Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh.

Phát huy truyền thống vẻ vang của địa phương, của LLVT tỉnh trong các giai đoạn cách mạng trước đây; quán triệt sâu sắc đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Bộ Tư lênh Quân khu 3, trực tiếp là của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, LLVT ba thứ quân của tỉnh Hòa Bình tiếp tục được củng cố, xây dựng và phát triển, ngày càng đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ. Lực lượng thường trực gồm Bộ CHQS tỉnh, Ban CHQS các huyện, thành phố và các đơn vị trực thuộc được biên chế theo quy định, xây dựng theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng theo hướng rộng khắp, ở đâu có nhân dân, có tổ chức đảng là ở đó có dân quân, tự vệ, khẳng định là lực lượng đông đảo, chủ lực trong xây dựng nền quốc phòng - quân sự địa phương. Lực lượng dự bị động viên được đăng ký, quản lý, phúc tra, kiểm tra chặt chẽ, thường xuyên được bổ xung, được sắp xếp vào các đơn vị Dự bị động viên, tỷ lệ đúng với chuyên nghiệp quân sự, chất lượng ngày càng cao. Quá trình thực hiện nhiệm vụ từ khi tái lập tỉnh đến nay đạt được kết quả toàn diện, trong đó có nhiều nhiệm vụ nổi bật. Cụ thể:

- Thực hiện tốt nhiệm vụ làm tham mưu cho cấp ủy và chính quyền địa phương kịp thời có chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, xây dựng tỉnh Hòa Bình và các huyện, thành phố thành khu vực phòng thủ (KVPT) ngày càng vững chắc, trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong tỉnh nhiều năm qua, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.

- Công tác giáo dục QP - AN cho các tầng lớp nhân dân được thực hiện tích cực, thường xuyên, hiệu quả. Công tác bồi dưỡng kiến thức QP-AN cho các đối tượng cán bộ, đảng viên ngày càng nề nếp, đúng theo chủ trương của Đảng và Nghị quyết của Chính phủ, 100% cán bộ, đảng viên thuộc các đối tượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng của các nhiệm kỳ (Đại hội Đảng, HĐND, UBND các cấp) được bồi dưỡng, 100% các nhà trường trung học phổ thông, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề trên địa bàn tỉnh được học chương trình giáo dục QP - AN theo quy định, chất lượng học tập ngày càng được nâng lên. Do thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức QP - AN, đã tạo được sự đồng thuận, thống nhất cao trong các tầng lớp nhân dân về nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; hiệu lực lãnh đạo, năng lực quản lý, chức năng làm tham mưu về QP - AN của cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể được nâng lên, góp phần phòng chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.

- Luôn duy trì nghiêm chế độ SSCĐ, sẵn sàng phòng chống lụt bão, phòng chống cháy rừng, tìm kiếm cứu nạn… góp phần bảo vệ an toàn tuyệt đối trong các dịp diễn ra các sự kiện chính trị lớn của địa phương như: Đại hội Đảng các cấp; bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, các ngày kỷ niệm lớn của Đảng, của đất nước và của địa phương, các dịp lễ, tết… Bên cạnh đó, LLVT tỉnh luôn khẳng định là lực lượng nòng cốt đi đầu trong phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn. Tiêu biểu như: huy động lực lượng giúp 130 hộ dân thuộc 2 xã Tân Mai, Phúc Sạn, huyện Mai Châu di rời khỏi khu vực có nguy cơ sạt lở đến nơi ở mới; phối hợp với các lực lượng xử lý kịp thời sự cố sạt lở đất, đá ở trên quốc lộ 6, thuộc địa phận xã Đồng Bảng, huyện Mai Châu, nhanh chóng tìm kiếm được người bị nạn, giải phóng khoảng 200 mét đường bị vùi lấp; chỉ đạo các lực lượng tham gia có hiệu quả việc chữa cháy rừng tại xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy và chống vỡ đập hồ Vưng tại xã Đông Lai, huyện Tân Lạc… bảo đảm an toàn tuyệt đối.

- Công tác huấn luyện thường xuyên được đổi mới toàn diện. Quán triệt và thực hiện tốt phương châm “Cơ bản - thiết thực - vững chắc” ; coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, theo nhiệm vụ, sát với đối tượng, địa bàn tác chiến, khu vực phòng thủ; trong điều kiện địch sử dụng vũ khí công nghệ cao. Huấn luyện cho LLVT của tỉnh sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị có trong biên chế và các loại vũ khí, trang bị mới, khi được tăng cường; cơ động lực lượng, phương tiện linh hoạt; giỏi tác chiến độc lập, nâng cao khả năng tác chiến khi được tăng cường binh khí kỹ thuật, hiệp đồng binh chủng, tác chiến trong KVPT. Bảo đảm cho SSCĐ và chiến đấu thắng lợi trên mọi quy mô, trong mọi tình huống. Kết quả huấn luyện hằng năm 100% đạt yêu cầu, có 75% trở lên khá giỏi.

- Từ khi tái lập tỉnh (10/1991) đến nay, đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo và tổ chức hàng trăm cuộc diễn tập khu vực phòng thủ (KVPT) tỉnh, huyện; diễn tập bảo đảm của các sở, ban, ngành của tỉnh và diễn tập chiến đấu phòng thủ xã, phường, thị trấn. Trong diễn tập đã gắn với động viên toàn dân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng, vừa đạt mục đích QP - AN, vừa có tác dụng tích cực góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH theo hướng CNH - HĐH, nâng cao đời sông vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân.

- Phát huy truyền thống, phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", phối hợp với các cấp, các ngành và toàn dân đẩy mạnh phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, chính sách hậu phương quân đội, chính sách xã hội. Xây dựng quỹ “đền ơn đáp nghĩa”, phối hợp thăm, tặng quà cho đối tượng chính sách hàng năm; xây dựng được 53 nhà tình nghĩa, nhà đồng đội, nhà chính sách xã hội (năm 2017 đã phát động tổ chức xây dựng và bàn giao thêm 13 nhà); hoàn thành chi trả trợ cấp một lần cho (tính đến ) 37.463 đối tượng chính sách tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ theo các Quyết định 47 ngày 11/4/2002, Quyết định 290 ngày 08/11/2005, Quyết định 142 ngày 27/10/2008, Quyết định số 62 ngày 9/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ, với tổng số tiền trên 136,764 tỷ đồng và có 89 đồng chí được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng.

- Triển khai hiệu quả các đề tài, đề án tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh. Bộ CHQS tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan thành viên triển khai thực hiện Đề án số 03- ĐA/TU ngày 14/ 01/2010 của Tỉnh ủy Hòa Bình về "Củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phát triển KT-XH và đảm bảo QP-AN 2 xã Hang Kia, Pà Cò, huyện Mai Châu" đạt kết quả rất quan trọng. Hệ thống chính trị 02 xã được kiện toàn củng cố, hoạt động từng bước đi vào nề nếp; phát triển kinh tế được đẩy mạnh, kết cấu hạ tầng được ưu tiên đầu tư xây dựng; chất lượng giáo dục, công tác y tế phòng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được nâng lên; các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch nhằm giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mông được quan tâm; QP-AN được tăng cường, giải quyết cơ bản tồn tại về an ninh, ổn định chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, tạo được sự đồng thuận trong nhân dân. Triển khai thực hiện Đề án Xây Mô hình làng bản văn hoá - quốc phòng ở địa bàn đặc biệt khó khăn trong khu vực phòng thủ tỉnh đạt được kết quả thiết thực. Bộ CHQS tỉnh đã phối hợp chỉ đạo xây dựng thí điểm được 19 xóm, làng trên địa bàn tỉnh. Các xóm, làng văn hóa - quốc phòng cơ sở hạ tầng được nâng cấp; các công trình vệ sinh, chuồng trại, mương rãnh được xây dựng, cải tạo hợp vệ sinh; các quy định về đời sống văn hóa được bổ sung và đưa vào thực hiện; các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp được phát huy; hệ thống chính trị được củng cố, từng bước nâng cao chất lượng hoạt động; QP-AN được củng cố và tăng cường; thực hiện tốt vai trò nòng cốt vận động nhân dân thực hiện phong trào giữ gìn an ninh trật tự, cơ bản ngăn chặn được các hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan... Thực hiện Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh  đã có mô mình, cách làm sáng tạo như mô hình "Đồng hành cùng các em đến trường" đã quyên góp và tặng 470 xe đạp, 01 xe lăn, 18 quạt điện, 06 góc học tập tình thương, 100 cặp sách, 36 máy tính casio.... tổng trị giá trên 700 triệu đồng.

VI. THÀNH TÍCH VÀ TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA LLVT TỈNH

1. Một số thành tích tiêu biểu

- Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, LLVT tỉnh đã chiến đấu và phối hợp chiến đấu 1.780 trận; tiêu diệt và bắt 3.406 tên địch; phá hủy 18 khẩu trọng pháo, trung liên, đại liên; bắn cháy, bắn hòng 16 ca nô, tàu chiến, 51 xe vận tải; phá huy 3 kho quân trang, quân dụng; thu 529 súng các loại, 120.000 viên đạn... toàn tỉnh có 955 người con thuộc các dân tộc anh em tham gia quân đội, 1.169.000 lượt con em đi dân công, thanh niên xung phong phục vụ kháng chiến, tổng số 2.453.620 công, ủng hộ 878 con trâu bò, 41.013 kg thực phẩm, gần 600 tấn thóc, gạo, 280.000 đồng... cùng hàng chục triệu cây bương tre ... cho kháng chiến. 

- Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đặc biệt là 2 lần chống chiến tranh phá hoại, LLVT tỉnh đã chiến đấu và phối hợp chiến đấu 693 trận, bắn rơi 49 máy bay các loại của địch. Toàn tỉnh có 11.460 thanh niên gia nhập quân đội, 15.690 người đi thanh niên xung phong, đào 23.640 hầm hố phòng tránh, đào đắp 136 công sự trận địa, 162.000 tấn lương thực và 1.436 tấn thực phẩm.

Với những thành tích đặc biệt xuất xắc, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, tỉnh Hoà Bình và 10 huyện, thành phố, 62 xã phường, thị trấn được tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, phong tặng và truy tặng 235 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, 10 Anh hùng LLVT nhân dân và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Từ năm 1991 đến nay, nhiều năm liền Đảng bộ quân sự tỉnh đạt TSVM; đơn vị vững mạnh toàn diện; Chủ tịch nước tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Ba; 02 Huân Chương bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì, 01 hạng Ba; Thủ tướng Chính phủ tặng 3 Cờ thi đua xuất sắc; hàng trăm lượt tập thể, cá nhân được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 3 và UBND tỉnh Hoà Bình tặng Bằng khen.

2. Truyền thống vẻ vang của LLVT tỉnh

Là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, LLVT tỉnh Hòa Bình có chung truyền thống LLVT Việt Nam anh hùng. Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, LLVT tỉnh Hoà Bình đã viết nên truyền thống: “Đoàn kết, Sáng tạo, Hiệp đồng, Lập công, Chiến thắng”. Truyền thống đó được thể hiện ở những nét đặc trưng sau:

Một là, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng, với Tổ quốc Việt Nam  xã hội chủ nghĩa, với nguyện vọng chính đáng của nhân dân lao động, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội.

Hai là, có tinh thần quyết chiến, quyết thắng, càng chiến đấu, càng trưởng thành và chiến thắng vẻ vang.

Ba là, tinh thần dũng cảm mưu chí, sáng tạo khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng LLVT, xây dựng và bảo vệ quyên hương.

Bốn là, tinh thần đoàn kết nội bộ chặt chẽ, trên dưới một lòng, thống nhất ý chí và hành động. Đoàn kết máu thịt với nhân dân, luôn dựa chắc vào dân để chiến đấu và công tác, được nhân dân tin yêu, đùm bọc.

Năm là, tinh thần không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt, chủ động tiếp cận cái mới, cái tiến bộ, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ được nâng lên.

Sáu là, tinh thần tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Phần II

GIỮ VỮNG VÀ PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG 70 NĂM

XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH, LLVT TỈNH QUYẾT TÂM

HOÀN THÀNH TỐT MỌI NHIỆM VỤ ĐƯỢC GIAO

Tự hào về truyền thống vẻ vang trong 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Để giữ vững, tiếp tục phát huy hơn nữa, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; trong thời gian tới LLVT tỉnh cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau đây:

Một là, quán triệt và thực hiện có hiệu quả đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh. Đặc biệt Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị về Xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới và Nghị định 152 của Chính phủ về Khu vực phòng thủ; Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo Nghị quyết XII.

Hai là, Ra sức xây dựng LLVT tỉnh vững mạnh toàn diện, cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, lấy xây dựng bản lĩnh chính trị làm cơ sở xây dựng sức mạnh tổng hợp của LLVT tỉnh. Xây dựng lực lượng DQTV đảm bảo rộng khắp, thực sự là lực lượng nòng cốt giữ vững tình hình ở cơ sở. Quản lý chặt chẽ lực lượng DBĐV, tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện, đáp ứng yêu cầu động viên của tỉnh và quân đội.

Ba là, Tiếp tục bồi dưỡng cho bộ đội địa phương, DQTV, DBĐV có năng lực làm công tác vận động quần chúng. Nắm chắc tình hình diễn biến ở cơ sở, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thiết chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng củng cố ngày càng vững chắc “thế trận lòng dân”.

Bốn là, tổ chức các hoạt động của dân quân tự vệ trên cơ sở nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội ở từng địa phương; thể hiện chặt chẽ sự kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, quốc phòng với an ninh...

Năm là, chăm lo xây dựng các tổ chức Đảng quân sự trong sạch vững mạnh cơ quan quân sự các cấp vững mạnh toàn diện, trọng tâm là tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05-CT/TW của bộ Chính trị, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng và Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh bộ đội Cụ Hồ". Tham gia xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, thế trận lòng dân vững chắc cho nền quốc phòng toàn dân; đồng thời thực hiện tốt chính sách hậu phương quan đội, phong trào đền ơn đáp nghĩa, và chính sách xã hội.

Sáu là, làm tốt công tác giáo dục truyền thống trong nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, làm cho mỗi người dân Hòa Bình tự hào về truyền thống của ông cha ta, ra sức phấn đấu, tu dưỡng, kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang 70 năm qua của nhân dân và LLVT tỉnh Hòa Bình.

Chặng đường 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, với những cống hiến, hy sinh to lớn trong các giai đoạn cách mạng của các thế hệ cán bộ, chiến sỹ LLVT tỉnh đã liên tục phấn đấu viết nên truyền thống với mười chữ vàng: "Đoàn kết, sáng tạo, hiệp đồng, lập công, chiến thắng". Vinh dự và tự hào với chặng đường 70 năm qua, trước hết thuộc về các Anh hùng liệt sỹ, Mẹ Việt Nam anh hùng, các đồng chí thương binh, bệnh binh, gia định liệt sỹ, gia đình có công với nước và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Truyền thống đó là kết tinh sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của các cấp uỷ đảng, sự quản lý, điều hành có hiệu quả của các cấp chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các cấp, các ngành địa phương, các đơn vị quân đội, các doanh nghiệp đứng chân trên địa bàn và sự phấn đấu vươn lên liên tục, bền bỉ của cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh; là sức mạnh đại đoàn kết và sức mạnh tổng hợp của Nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình.

Kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Tỉnh đội, ngày truyền thống LLVT tỉnh Hòa Bình, tự hào ôn lại truyền thống vẻ vang Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình quyết tâm phấn đấu, thực hiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hoà Bình lần thứ XVI đề ra, xây dựng tỉnh Hòa Bình phát triển giàu mạnh và kiên cường cách mạng, xứng đáng với nền văn hoá Hoà Bình rực rỡ và Danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân./.


[1] Theo Kỷ yếu ảnh "Lực lượng vũ trang Nhân dân tỉnh Hòa Bình 60 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành (16/8/1947 - 16/8/2007)"

[2] Theo Kỷ yếu ảnh "Lực lượng vũ trang Nhân dân tỉnh Hòa Bình 60 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành (16/8/1947 - 16/8/2007)"

[3] Cách mạng tháng Tám thành công: Châu Lạc Sơn 20/8, Châu Lạc Thủy 22/8, Châu Kỳ Sơn và Thị xã Hòa Bình 23/8, Châu Mai Đà 25/8, Châu Lương Sơn 26/8/1945.

[4] Ngày 16/8/1947 là ngày Thành lập Tỉnh đội Hoà Bình - Ngày Truyền thống của LLVT Tỉnh Hoà Bình (Quyết định số: 2153/QĐ-BTL ngày 24 tháng 5 năm 2007 của Bộ Tư lệnh Quân khu 3).

[5] Mặt trận chính: Thị xã Hòa Bình, sông Đà, đường số 6, đường 21. Mặt trận sau lưng địch chủ yếu tạo điều kiện cho chiến tranh nhân dân ở các địa phương phát triển, đồng thời củng cố cơ sở chính trị trên các địa bàn lân cận. 

Biên tập: Quách Thị Hải Thanh

Kỹ thuật: Hồng Thắm

Thực hiện Kế hoạch số 135/KH-UBND ngày 30/12/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt Sỹ (27/7/1947/27/7/2017) năm 2017 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình; Kế hoạch số 16/KH-UBND ngày 06/3/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Lạc Thủy về việc tổ chức các hoạt động kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2017) trên địa bàn huyện Lạc Thủy;

Ban Tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ huyện xây dựng Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm trên địa bàn huyện trên địa bàn  huyện Lạc Thủy với những nội dung sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

1. Múc đích

- Nhằm biểu dương  thương binh, bệnh binh điển hình, nỗ lực vượt khó trong lao động và công tác; Người có công với cách mạng, gia đình cách mạng gương mẫu, tiêu biểu trong các hoạt động ở địa phương góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2012 - 2017.

- Phát động sâu rộng phong trào " Đền ơn đáp nghĩa", nâng cao nhận thức của nhân dân về chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối vi Người có công; thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ đã hy sinh xương máu vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc.

2. Yêu cầu

Các hoạt động diễn ra tại lễ  kỷ niệm phải  trang trọng, thiết thực, ý nghĩa sâu rộng, lan tỏa, an toàn, tiết kiệm.

II. NỘI DUNG CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU

1.  Hoạt động thăm hỏi, tặng quà người có công dịp 27/7

- Thời gian: Từ ngày 20/7/2017 đến ngày 25/7/2017

- Nội dung: Lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân, UBMTTQ huyện, Thường trực BCĐ Chăm sóc người có công và Đại điện Lãnh đạo Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thăm hỏi tặng quà của Chủ tịch nước, của tỉnh, của huyện đối với Mẹ Việt nam anh hùng, thương binh, bệnh binh nặng.

- Công tác chuẩn bị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo Chăm sóc người có công chuẩn bị các nội dung cần thiết phục vụ việc thăm hỏi, tặng quà.

2. Tổ chức đoàn Đại biểu dự Hội nghị biểu dương cấp tỉnh, Hội nghị toàn quốc.

2.1. Hội nghị biểu dương cấp tỉnh

- Đại biểu cấp huyện 05 đại biểu gồm: Lãnh đạo Huyện ủy, UBND, UBMTTQ, BCĐ chăm sóc người có công, Trưởng hoặc Phó Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội.

- Đại biểu người có công:  Xã Thanh Nông 01 đại biểu là thân  nhân, Thị trấn Thanh Hà 01 đại biểu Dacam,  Xã Phú Thành 01 đại biểu bệnh binh, Xã Phú lão 01 đại biểu Thương binh, Xã Cố Nghĩa 01 đại biểu là thân nhân, Xã Lạc Long 01 đại biểu là thân nhân, Thị trấn Chi Nê  01 đại biểu thương binh, Xã Đồng Tâm 01 đại biểu bệnh binh, Xã Khoan Dụ 01 đại biểu dacam, Xã Yên Bồng 01 đại biểu thương binh.

2.2. Hội nghị biểu dương toàn quốc:

- Ông: Nguyễn Đức Thái - Bệnh binh, Địa chỉ: Xã Đồng Môn, huyện Lạc Thủy ( Ông Thái được Bộ Lao động TBXH tặng Bằng khen).

2.3. Công tác đưa đón Người có công đi dự Hội nghị biểu dương cấp tỉnh và toàn quốc.

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chủ động thuê xe và các chi phí khác  đưa đón đoàn người có công đi dự Hội nghị biểu dương cấp tỉnh và Hội nghị biểu dương toàn quốc.

3. Tổ chức Lễ kỷ niệm ( Hội nghị biểu dương cấp huyện) nhân kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ  dự kiến vào sáng ngày 26/7/2017.

3.1. Danh nghĩa tổ chức

Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt nam huyện.

- Cơ quan chủ trì: Ủy ban nhân dân huyện Lạc Thủy

- Cơ quan thực hiện: Các phòng, ban, ngành, đoàn thể của huyện.

3.2. Thời gian, địa điểm

+  Thời gian: 7h30 gày 26 tháng 7 năm 2017

+  Địa điểm: Nhà văn hóa huyện

3.3. Thành phần Hội nghị biểu dương:

- Đại biểu tỉnh: Lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Lãnh đạo Sở Lao động Thương binh và xã hội, đại biểu được phân công dự Hội nghị biểu dương.

- Đại biểu huyện: Lãnh đạo Huyện ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ huyện, các phòng, ban, ngành, đoàn thể, các cơ quan, đơn vị đứng chân trên địa bàn huyện.

- UBND các xã, thị trấn: Mời 01 đại biểu đại diện lãnh đạo Đảng ủy - HĐND- UBND xã, 01 đại biểu là Chủ tịch UBMTTQ xã, 01 cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xã.

 - Người có công tiêu biểu được bình chọn tại các xã, thị trấn tỷ lệ 10%  tương đương (114 đại biểu) trên tổng số người có công toàn địa bàn huyện cụ thể như sau: Xã Thanh Nông 04 đại biểu, Thị trấn Thanh Hà 07 đại biểu,  Xã Phú Thành 14 đại biểu, Xã Phú lão 7 đại biểu, Xã Cố Nghĩa 11 đại biểu, Xã Lạc Long 04 đại biểu, Thị trấn Chi Nê  16 đại biểu, Xã Đồng Tâm 12 đại biểu, Xã Khoan Dụ 8 đại biểu, Xã Yên Bồng 11 đại biểu, Xã Liên Hòa 02 đại biểu, Xã An Lạc 02 đại biểu, Xã An Bình  11 đại biểu, Đồng Môn 01, Xã Hưng thi 04 đại biểu.

3.4. Thành phần phục vụ:

+ Văn phòng Hội đồng nhân dân và UBND huyện: 05 đồng chí

+ Trung tâm Văn hóa: 05 đồng chí

+ Ban chỉ huy quân sự huyện: 07 đồng chí. (Phục vụ Lễ viếng  tại đền thờ và Nghĩa trang).

+ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội: Toàn thể lãnh đạo và cán bộ phòng.

3.5. Nội dung chi tiết Lễ kỷ niệm (Hội nghị biểu dương).

3.5.1. Chương trình nội dung Hội nghị.

Chương trình gồm có:

- Đón tiếp đại biểu, phát tài liệu và quà.

- Viếng nghĩa trang liệt sỹ (Địa điểm tại nghĩa trang liệt sỹ thị trấn Chi nê, huyện Lạc Thủy). Giao Ban chỉ huy quân sự cử 07 đồng chí tham gia (01 đ/c chỉ huy, 02 đ/c bê vòng hoa, 04 đ/c tiêu binh); Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chuẩn bị các nội dung cần thiết để phục vụ lễ dâng hương.

- Tổ chức Hội nghị tại nhà Văn hóa huyện:

Sau khi viếng nghĩa trang liệt sỹ, mời các đại biểu tập trung  về Nhà văn hóa huyện.

+ Chương trình văn nghệ : 45 phút

+ Ổn định tổ chức, tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu.

+ Khai mạc Hội nghị

+ Trình bày báo cáo tóm tắt 5 năm thực hiện công tác chăm  sóc người có công trên địa bàn huyện Lạc Thủy (Giai đoạn 2012 - 2017) nhân kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt Sỹ.

+  Các ý kiến tham luận ( 05 ý kiến tham luận của các ngành: Đoàn Thanh Niên, UB Mặt trận tổ quốc Việt nam huyện, Xã Đồng tâm, Thị trấn Thanh Hà, Đại diện người có công).

+ Lãnh đạo cấp trên phát biểu

+ Lãnh đạo huyện phát biểu

+ Công tác khen thưởng

+ Tiếp thu ý kiến tham luận

+Bế mạc Hội nghị

+ Mời Đại biểu dự bữa cơm thân mật tại nhà ăn UBND huyện

+ Kết thúc Hội nghị

3.5.2 Lễ thắp nến tri ân các Anh hùng Liệt sỹ nhân kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ tại Nghĩa Trang K34 xã Liên hòa, Đền thờ và Nghĩa trang Liệt sỹ thị trấn Chi Nê.

3.5.2.1. Thắp nến tri ân tại nghĩa trang K34

- Địa điểm tổ chức: Tại Nghĩa trang Liệt sỹ  K34 (Thôn Liên Hồng, Xã Liên Hòa - Huyện Lạc Thủy)

- Đơn vị tổ chức: Huyện đoàn phối hợp với Ban chỉ huy quân sự huyện  tổ chức

- Các nội dung cần thiết: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chuẩn bị các nội sung cần thiết để phục vụ lễ thắp nến tri ân.

- Thành phần đại biểu gồm: lãnh đạo Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, UBMT Tổ quốc Việt nam huyện, và các đoàn thể, lãnh đạo các ban, ngành, lãnh đạo Đảng ủy, HĐND,UBND, UBMTTQ xã Liên Hòa, cùng các đơn vị quân đội, công an đóng trên địa bàn huyện, lực lượng đoàn viên thanh niên toàn huyện.

- Thời gian: Từ 20 giờ 15 phút đến 21 giờ 15 phút ngày 25 tháng 7 năm 2017.

3.5.2.2. Thắp nến tri ân tại Đền thờ và Nghĩa trang liệt sỹ thị trấn Chi Nê).

-  Địa điểm tổ chức: Tại Đền thờ và Nghĩa trang Liệt sỹ huyện Lạc Thủy (Khu I - Thị trấn Chi Nê - Huyện Lạc Thủy)

- Đơn vị tổ chức: Huyện đoàn phối hợp với Ban chỉ huy quân sự huyện  tổ chức

- Các nội dung cần thiết: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chuẩn bị các nội dung cần thiết để phục vụ lễ thắp nến tri ân

- Thành phần đại biểu gồm: lãnh đạo Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, ỦY ban nhân dân, UBMT Tổ quốc Việt nam huyện, và các đoàn thể, lãnh đạo các ban, ngành, lãnh đạo Đảng ủy, HĐND,UBND, UBMTTQ thị trấn Chi Nê,cùng các đơn vị quân đội đóng trên địa bàn huyện, lực lượng đoàn viên thanh niên toàn huyện.

- Thời gian: Từ 20 giờ 15 phút đến 21 giờ 15 phút ngày 26 tháng 7 năm 2017.

Biên tập: Quách Thị Hải Thanh

Kỹ thuật: Hồng Thắm

Cộng tác viên: Xuân Đạt

Ngày 09 tháng 6 nămm 2017 Ban tuyên giáo Huyện uỷ đã xây dựng kế hoạch số 06-KH/TGHU về việc triển khai cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào” trên địa bàn huyện Lạc Thuỷ, với nội dung sau:

          I. Mục đích, yêu cầu

          Thiết thực hưởng ứng “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào 2017” cùng với các sự kiện: 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (05/9/1962 – 05/9/2017); 40 năm Ngày ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào (18/7/1997 - 18/7/2017)

          Tiếp tục phát huy các giá trị khoa học của công trình biên soạn ‘Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2007” và tài liệu tuyên truyền “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2017”.

          Góp phần tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ trong huyện về tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong quá trình đấu tranh giải phòng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội; vun đắp tình hữu nghị thuỷ chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào; đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, bóp méo lịch sử, gây chia rẽ tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào của thế lực thù địch

II. Đối tượng, hình thức, nội dung tham dự cuộc thi

1. Đối tượng dự thi: Là công dân Việt Nam và người nước ngoài đang sinh sống, học tập, làm việc trên địa bàn huyện

2. Hình thức thi

- Thi trắc nghiệm hàng tuần trên Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt nam và các cơ quan báo chí điện tử phối hợp.

- Thi viết theo các nội dung chủ đề được Ban Tổ chức cuộc thi cấp Trung ương công bố ở Thể lệ cuộc thi.

- Mỗi cá nhân được tham gia cả hai hình thức và không hạn chế số bài dự thi.

3. Nội dung

Cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào” nhằm truyền tải các nội dung sau:

- Những cơ sở tạo nên việc thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (05/9/1962). Ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại giao của hai nước.

- Quá trình liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào trong những năm tháng chiến tranh gian khổ và đầy hi sinh xương máu, đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Đế quốc Mỹ giành thắng lợi hoàn toàn.

- Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản, Chủ tịch Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.

- Những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam từ sau khi hai dân tộc đánh bại kẻ thù chung, đất nước được hoàn toàn giải phóng đến nay. Ý nghĩa và tầm quan trọng của Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (được ký kết ngày 18/7/1977).

- Những kỷ niệm sâu sắc về tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Lào trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

- Những biểu hiện sinh động của mối quan hệ đoàn kết, gắn bó thủy chung, son sắc của hai dân tộc Việt Nam - Lào dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước từ khi thiết lập mối quan hệ hợp tác và hữu nghị đến nay.

- Những kinh nghiệm quý báu về việc gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào.

- Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong lịch sử của hai dân tộc và trên những chặng đường phát triển mới.

- Những cảm nhận của bản thân đối với nền văn hóa về đất nước và con người Lào; bản thân cần phải làm để gìn giữ, phát huy tình cảm hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào.

4. Số lượng bài thi viết; thời gian và địa điểm nộp bài thi dự thi

- Đảng bộ xã, thị trấn: Mỗi đơn vị tham gia ít nhất 10 bài thi

- Đảng bộ khối cơ quan, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang: Mỗi đơn vị tham gia ít nhất 05 bài thi

- Các chi bộ trực thuộc: Mỗi đơn vị tham gia ít nhất 01 bài thi

- Hạn cuối cùng nhận bài dự thi: ngày 04/8/2017.

- Nơi nhận bài dự thi: Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Lạc Thuỷ - Hoà Bình.

5. Thể lệ cuộc thi: Do Ban Tổ chức cuộc thi cấp Trung ương ban hành (có văn bản kèm theo).

6. Thời gian trao giải và cơ cấu giải thưởng

6.1. Bài dự thi viết

a. Ban Tuyên giáo Huyện ủy nhận và nộp bài về Ban Tổ chức Cuộc thi cấp Tỉnh. Ban Tổ chức cuộc thi cấp tỉnh sẽ tổ chức Lễ trao giải, tổng kết cuộc thi viết vào tháng 9/2017.

* Giải cá nhân:

- 01 giải nhất: 5.000.000 đồng.

- 02 giải nhì, mỗi giải: 3.000.000 đồng.

- 03 giải ba, mỗi giải: 1.000.000 đồng.

- 10 giải khuyến khích, mỗi giải: 500.000 đồng.

* Giải tập thể:

- 01 giải nhất: 3.000.000 đồng.

- 02 giải nhì, mỗi giải: 2.000.000 đồng.

- 03 giải ba, mỗi giải: 1.000.000 đồng.

b. Cấp Trung ương, trao các giải thưởng:

* Giải cá nhân:

- 01 giải nhất: 30.000.000 đồng.

- 03 giải nhì, mỗi giải: 10.000.000 đồng.

- 05 giải ba, mỗi giải: 5.000.000 đồng.

- 20 giải khuyến khích, mỗi giải: 1.000.000 đồng.

* Giải tập thể:

- 01 giải nhất: 30.000.000 đồng.

- 03 giải nhì, mỗi giải: 10.000.000 đồng.

- 05 giải ba, mỗi giải: 5.000.000 đồng.

- 20 giải khuyến khích, mỗi giải: 2.000.000 đồng.

6.2. Thi trắc nghiệm hằng tuần:

Mỗi tuần Ban Tổ chức cuộc thi cấp Trung ương trao 03 giải thưởng, bao gồm:

- 01 giải nhất: Trị giá 1.500.000 đồng.

- 01 giải nhì: Trị giá 1.000.000 đồng.

- 01 giả ba: Trị giá 500.000 đồng.

THỂ LỆ

Cuộc thi “Tìm hiểu Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào năm 2017”

Điều 1. Mục đích, yêu cầu

- Góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng, nhất là cho thế hệ trẻ về quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong quá trình đấu tranh chống lại kẻ thù chung, giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước phát triển.

- Thiết thực hưởng ứng “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào 2017” cùng với các sự kiện: 55 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (5/9/1962 - 5/9/2017); 40 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào (18/7/1977 – 18/7/2017); vun đắp ngày càng tốt đẹp hơn tình cảm của hai dân tộc Việt Nam - Lào; đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc, bóp méo lịch sử của các thế lực thù địch, gây chia rẽ mối quan hệ hữu nghị và tình đoàn kết đặc biệt giữa hai nước Việt Nam - Lào.

- Tiếp tục phát huy các giá trị khoa học của công trình biên soạn “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 -2007” (xuất bản năm 2011) và công trình bổ sung “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1962 - 2017” (xuất bản năm 2017).

Điều 2. Các quy định chung

2.1. Đối tượng dự thi

- Tất cả công dân Việt Nam và người nước ngoài đều có quyền tham gia dự thi, không phân biệt lứa tuổi, thành phần, tôn giáo.

- Ban Tổ chức khuyến khích các đối tượng tham gia dự thi là công dân hai nước Việt Nam và Lào đang sinh sống, lao động và học tập ở nước ngoài, bạn bè quốc tế tham gia dự thi.

2.2. Hình thức thi

- Thi trắc nghiệm hàng tuần trên Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam và các cơ quan báo chí điện tử phối hợp.

- Thi viết theo các nội dung chủ đề được Ban Tổ chức công bố.

Mỗi cá nhân được tham gia cả hai hình thức và không hạn chế số bài dự thi.

Điều 3. Các quy định cụ thể cho từng thể loại thi

3.1. Thi trắc nghiệm hằng tuần

- Người dự thi tiến hành các thao tác để trả lời câu hỏi thi của Ban Tổ chức:

Truy cập vào một trong các trang web: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: http://vietlao.dangcongsan.vn; Báo Nhân dân: www.nhandan.org.vn; Báo Quân đội Nhân dân: www.qdnd.vn; Tạp chí Tuyên giáo điện tử: www.tuyengiao.vn; Báo Tiền Phong: www.tienphong.vn; Báo Thanh Niên: www.thanhnien.vn; Báo Tuổi trẻ: www.tuoitre.vn).

+ Trả lời câu hỏi thi:

Mỗi tuần, Ban Tổ chức Cuộc thi đưa ra 3 câu hỏi. Mỗi câu hỏi thi có 3 đáp án trả lời trắc nghiệm, trong đó có 1 đáp án đúng. Người dự thi vào các chuyên trang Cuộc thi tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam và thao tác như sau:

(1) Điền các thông tin cá nhân (Họ và tên; chứng minh thư nhân dân; số điện thoại; địa chỉ liên hệ; E-mail...) theo yêu cầu và trả lời các câu hỏi bằng cách lựa chọn một phương án đúng, sau đó điền vào ô “Dự đoán” số người trả lời đúng, nhập “Mã xác thực” và bấm vào ô “Trả lời”.

(2) Trong trường hợp số người dự thi (từ 2 người trở lên) cùng trả lời đúng các câu hỏi, cùng dự đoán chính xác số người trả lời đúng, Ban Tổ chức sẽ căn cứ vào thời gian gửi trả lời câu hỏi để trao thưởng cho người gửi trả lời sớm nhất. Thời gian được tính từ khi bắt đầu đến khi kết thúc cuộc thi tuần trước (thời gian tính đến giây, phút, giờ, ngày theo thời gian thi, hiển thị trên phần mềm thi trực tuyến).

- Thời gian thi trắc nghiệm được tiến hành hàng tuần, bắt đầu từ ngày 2/5/2017 và kết thúc vào ngày 22/12/2017.

- Thời gian thi mỗi tuần được tính từ 10h00 thứ ba hằng tuần và kết thúc vào 9h30 thứ ba tuần kế tiếp.

3.2. Thi viết

3.2.1. Quy định về bài dự thi

- Bài dự thi của tác giả phải là các tác phẩm chưa được công bố ở bất kỳ báo, tạp chí, sách.... và phải chuyển tải được một trong các chủ đề gợi ý của Ban Tổ chức cuộc thi.

- Bài dự thi có thể viết tay hoặc đánh máy, với dung lượng tối đa 5.000 từ. Khuyến khích đánh máy và in trên giấy A4, cỡ chữ 14, nếu là tiếng Việt thì sử dụng font chữ Time New Roman. Có thể sử dụng ảnh để minh họa phong phú thêm bài viết (ghi rõ nguồn, tên tác giả của ảnh).

- Các bài dự thi trình bày trên các chất liệu khác như nhôm, nhựa, mô hình… không được xem xét giải cá nhân, nhưng được tính vào số lượng để xét giải tập thể nơi người dự thi nộp bài.

- Bài dự thi phải ghi rõ và đầy đủ họ, tên, tuổi (ngày, tháng, năm sinh), giới tính, nghề nghiệp, thành phần dân tộc, tôn giáo, đơn vị học tập, công tác, nơi thường trú; số điện thoại liên hệ.

3.2.2. Thời gian và địa điểm nộp bài thi dự thi

- Đối với cấp tỉnh, thành phố:

Thời gian nhận bài dự thi: Được tính từ sau khi Ban Tổ chức công bố Thể lệ Cuộc thi. Hạn cuối cùng nhận bài dự thi là ngày 15/8/2017 (căn cứ vào dấu bưu điện).

Nơi nhận bài dự thi: Ban Tổ chức Cuộc thi cấp tỉnh, thành phố (qua Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, thành uỷ - Nơi người dự thi đang sinh sống, học tập và công tác); Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam (Bộ Quốc phòng) và Tổng cục Chính trị CAND (Bộ Công an) đối với bài dự thi của cán bộ, chiến sỹ trong các lực lượng vũ trang nhân dân.

- Đối với cấp Trung ương:

Thời gian nhận bài: Từ ngày 1- 31/10/2017 (căn cứ vào dấu bưu điện).

Địa chỉ nhận bài dự thi: Tạp chí Tuyên giáo - 49 Phan Đình Phùng, phường Quán Thánh, quận Ba Đình, Hà Nội.

Mọi chi tiết xin liên hệ với cán bộ Thường trực Cuộc thi:

Điện thoại: 080.44374 - 080.44511; Fax: 04.37330967

E-mail: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Ban Tổ chức không nhận bài thi qua Fax và E-mail.

* Chấm thi

- Vòng một: Do Ban Giám khảo Cuộc thi cấp tỉnh, thành phố và tương đương tổ chức chấm, lựa chọn tối đa 30 bài dự thi đạt kết quả tốt gửi về Ban Tổ chức Cuộc thi cấp Trung ương.

Ban Giám khảo Cuộc thi Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh chấm, lựa chọn tối đa 50 bài dự thi đạt kết quả tốt gửi về Ban Tổ chức Cuộc thi cấp Trung ương.

- Vòng hai: Ban Giám khảo Cuộc thi cấp Trung ương tổ chức chấm theo tiêu chí, thang điểm đã được Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức Cuộc thi quy định.

Điều 4. Giải thưởng cuộc thi

4.1. Thi trắc nghiệm hàng tuần

Mỗi tuần có 03 giải thưởng, bao gồm:

- 01 giải Nhất: trị giá 1.500.000 đồng.

- 01 giải Nhì: trị giá 1.000.000 đồng.

- 01 giải Ba: trị giá 500.000 đồng.

4.2. Thi viết

4.2.1. Giải cá nhân: Có 28 giải, bao gồm:

- 1 giải nhất: 30.000.000 đồng

- 3 giải nhì, mỗi giải: 10.000.000 đồng

- 5 giải ba, mỗi giải: 5.000.000 đồng

- 20 giải khuyến khích, mỗi giải: 1.000.000 đồng

4.2.2. Giải tập thể: Có 28 giải, bao gồm:

- 1 giải nhất: 30.000.000 đồng

- 3 giải nhì, mỗi giải: 10.000.000 đồng

- 5 giải ba, mỗi giải: 5.000.000 đồng

- 20 giải khuyến khích, mỗi giải: 2.000.000 đồng

Điều 5. Thông báo kết quả và trao thưởng

5.1. Đối với thi trắc nghiệm

- Kết quả thi trắc nghiệm sẽ được cập nhật vào tuần cuối hằng tháng trên trang báo điện tử của các cơ quan thông tin đại chúng phối hợp tổ chức Cuộc thi.

- Hằng quý, Ban Tổ chức Cuộc thi trao giải thưởng cho những người đoạt giải trong các cuộc thi trắc nghiệm tuần (người đoạt giải không có điều kiện trực tiếp nhận giải có thể nhận tiền thưởng qua bưu điện hoặc qua tài khoản cá nhân).

5.2. Đối với Cuộc thi viết

Kết quả Cuộc thi viết sẽ được công bố tại Lễ Tổng kết, trao giải Cuộc thi dự kiến vào tháng 12/2017.

Địa điểm tổ chức Lễ trao giải: Do Ban Chỉ đạo Cuộc thi quyết định.

Điều 6. Tổ chức thực hiện

Thể lệ Cuộc thi có hiệu lực từ ngày họp báo công bố và được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng. Việc sửa đổi, điều chỉnh nội dung Thể lệ chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý bằng văn bản của Ban Chỉ đạo Cuộc thi.

ĐỀ CƯƠNG

GỢI Ý MỘT SỐ NỘI DUNG CHÍNH TRONG 12 CHỦ ĐỀ THI VIẾT TÌM HIỂU

“LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM”

1. Những cơ sở tạo nên việc thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (5-9-1962). Ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại giao của hai nước.

Mục đích: Làm rõ những nhân tố tạo nên việc thiết lập quan hệ ngoại giaoViệt Nam-Lào, Lào-Việt Nam và ý nghĩa đặc biệt của sự kiện này.

Yêu cầu: Bài dự thi phải nêu được:

- Nêu được các yếu tố hình thành và phát triển dựa trên những điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị và xã hội; truyền thống chống giặc ngoại xâm của hai tộc và tinh thần tự nguyện phối hợp chiến đấu của nhân dân hai nước, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đặt nền móng và được phát triển không ngừng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ ở Đông Dương.

- Bối cảnh lịch sử và những đòi hỏi của cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung cần phải củng cố, phát triển quan hệ ngoại giao của hai nước nhằm giải quyết kịp thời những vấn đề phức tạp do sự can thiệp ngày càng sâu của Mỹ vào các nước Đông Dương. Từ đó, tiếp tục gắn kết hai dân tộc lại với nhau trên cùng một trận tuyến chống lại kẻ thù chung.

Ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.

 - Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm vóc lịch sử to lớn trong quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam.

          - Góp phần tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác thân thiện giữa hai dân tộc anh em tiến lên một tầm cao mới. Nhờ đó, đã giải quyết được những khó khăn, thử thách mới với nhiều diễn biến phức tạp do sự can thiệp ngày càng sâu của Mỹ vào các nước Đông Dương.

- Khẳng định đường lối nhất quán, đúng đắn trong mối quan hệ chiến lược của hai Đảng và nhân dân hai nước; đảm bảo sự thống nhất về đường lối chính trị, quân sự, để hai dân tộc tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra.

- Là cơ sở vững chắc để quân dân hai nước tiếp tục sát cánh bên nhau chiến đấu và giành nhiều thắng lợi mới trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai, giành độc lập tự do cho mỗi nước.

2. Phát triển liên minh chiến đấu, đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Đế quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn (1963-1975).

Mục đích: Làm rõ quá trình liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào trong những năm tháng chiến tranh gian khổ và đầy hy sinh xương máu, đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Đế quốc Mỹ giành thắng lợi hoàn toàn.  

Yêu cầu:

- Nêu được mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam trong liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đặt nền móng đã phát triển không ngừng qua các thời kỳ lịch sử từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954); cuộc đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơnevơ, chống chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ , thiết lập quan hệ ngoại giao ( 1954 – 1962).

- Nêu bật được quá trình liên minh chiến đấu của hai dân tộc qua các giai đoạn từ 1963-1975: Xây dựng vùng giải phóng Lào, xây dựng tuyến vận tải chiến lược Tây Trường Sơn, từng bước đánh thắng chiến lước chiến tranh đặc biệt ở Lào và chiến tranh cục bộ ở Việt Nam (1963-1968); đánh thắng chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam và chiến tranh đặc biệt tăng cường ở Lào (1969-1973); phối hợp đẩy mạnh đấu tranh giành thắng lợi hoàn toàn (1973-1975).

- Trong giai đoạn này, quan hệ Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam phát triển lên đỉnh cao của hình thức liên minh chiến lược trực tiếp chống đế quốc, trở thành một mẫu mực về tình đoàn kết, chiến đấu, hỗ trợ lẫn nhau trên mọi lĩnh vực.

- Thủy chung với tình hữu nghị truyền thống, trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã giúp đỡ, hỗ trợ đến mức cao nhất cả về vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân các bộ tộc Lào. Đáp lại, Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, hết lòng ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

- Trong cuộc trường chinh đầy gian khổ ấy, quân tình nguyện Việt Nam đã cùng Quân đội giải phóng nhân dân Lào mở nhiều chiến dịch cùng hàng loạt trận chiến đấu thắng lợi, đánh bại từng bước chiến lược“Chiến tranh đặc biệt”, rồi “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của Mỹ ở Lào, làm cho đế quốc Mỹ phải phân tán lực lượng đối phó, góp phần hỗ trợ đắc lực, tạo thời cơ thuận lợi cho các bước chuyển biến của chiến tranh cách mạng ở Việt Nam, tạo đà phát triển đi lên của cách mạng Campuchia, dẫn tới thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975.

- Từ thực tiễn đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam-Lào trongnhững năm tháng chiến tranh chống kẻ tù chung đã để lại một số bài học lịch sử, rất cần chắt lọc, vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mỗi nước.

3. Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản, Chủ tịch Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

Mục đích: Làm rõ vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản, Chủ tịch Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.

Yêu cầu:

- Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nêu bật được công lao to lớn của Người với vai trò là người đặt nền móng cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam. Đặc biệt, nêu được sự lãnh đạo, chỉ đạo và tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng, vun đắp mối và tăng cường tình đoàn kết chiến của quân và dân hai nước chống thù chung qua các thời kì lịch sử. Bên cạnh đó, cần làm rõ tình cảm của Hồ Chí Minh dành cho nhân dân Lào và những tình cảm quý báu của nhân dân Lào dành cho Hồ Chí Minh.

- Đối với Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản: Nêu được quá trình hoạt động của đồng chí từ thời niên thiếu tới lúc trưởng thành; tinh thần học tập và đấu tranh của đồng chí trên đất Việt Nam những thập kỉ đầu của thế kỉ XX. Đặc biệt, phải làm rõ được những cống hiến của đồng chí sau khi trở thành đảng viên của Đảng, trong đó nhấn mạnh đến mối quan hệ gắn bó giữa Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như với các thế hệ cán bộ lãnh đạo Việt Nam qua những thời cách mạng; cuối cùng cần phải khẳng định, cùng với  Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản là một trong những người đặt nền móng cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.

Đối với Chủ tịch Xuphanuvông: Bài dự thi cần phải khẳng định đây là một nhân vật đặc biệt, một biểu tượng của mối quan hệ và tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam, trong đó nêu bật quá trình sinh ra và lớn lên trong Hoàng cung Lào, sớm gắn bó và để lại nhiều dấu ấn đậm nét với cách mạng Việt Nam (qua một số công trình thiết kế thời kì Hoàng thân là kĩ sư hoạt động trên đất Việt Nam những thập kỉ đầu của thế kỉ XX); đặc biệt, phải làm rõ được mối quan hệ gắn bó giữa Hoàng thân với Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi. Tiếp đó, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và thời kì xây dựng, bảo vệ Tổ quốc sau này, cần nhấn mạnh những tình cảm tốt đẹp mà Hoàng thân dành cho các thế hệ, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện nhiệm quốc tế tại Lào; những cống hiến xuất sắc của Hoàng thân trên cương vị là Chủ tịch nước trong xây dựng mối quan hệ đặc biệt Lào-Việt Nam.

Đối với lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước, bài dự thi cần nhấn mạnh vai trò của các thế hệ lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước trong việc gìn giữ và phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam ở cả quá khứ, hiện tại, trong đó nhấn mạnh các hoạt động thông qua những cuộc gặp cấp cao của lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước nhằm thống nhất về chủ trương, đường lối trong xây dựng, vun đắp mối quan hệ đặc biệt.

4. Quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào- Việt Nam từ năm 1976 đến nay. Ý nghĩa và tầm quan trọng của Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (được ký kết ngày 18-7-1977)

Mục đích: Làm rõ những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam từ sau khi hai dân tộc đánh bại kẻ thù chung, đất nước được hoàn thành giải phóng; quan hệ giữa Việt Nam và Lào bước sang một thời kỳ mới – thời kỳ từ quan hệ chủ yếu giữa hai Đảng và nhân dân hai nước, chuyển sang quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai Đảng cầm uyền, hai Nhà nước và hai quốc gia độc lập, có chủ quyền, cùng khảo nghiệm, tìm tòi từng bước đổi mới để đưa đất nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Yêu cầu: Nêu bật được sự phát triển trong quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện cả về chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, giáo dục... Đây là đặc điểm quan trọng nhất, chi phối dẫn tới sự thay đổi về chiến lược trong nội dung, phương thức và các nguyên tắc quan hệ giữa hai quốc gia – dân tộc, nâng quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước lên tầm cao mới.

Bài viết lựa chọn vấn đề, đáp ứng mục đích, yêu cầu trên. Trong đó, tập trung phản ánh tinh thần đoàn kết hữu nghị và hợp tác toàn diện và phát triển trên các giai đoạn:

1. Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam trong giai đoạn khảo nghiệm, mở đường đổi mới (1976-1986). Trong đó, phải tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định xây dựng đất nước, từng bước mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện (1976-1981); Những năm đầu tìm tòi khảo nghiệm con đường đổi mới (1982-1986).

- Nêu bật những sự kiện quan trọng đưa quan hệ hữu nghị Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam lên tầm cao mới. Đặc biệt là sự kiện hai nước đã thỏa thuận ký kết các Hiệp ước và ra Tuyên bố chung, tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước. Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước.

- Nêu bật tầm quan trọng của Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (được ký ngày 18-7-1977) là Hiệp ước toàn diện đặc biệt quan trọng  mang tính chiến lược, là cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng để củng có và tăng cường lâu dài, bền chắc tình đoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào.

- Hiệp ước khẳng định mối quan hệ hữu nghị đặc biệt liên minh đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc không chỉ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc mà còn cả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau chiến tranh.

Việc ký kết Hiệp ước còn có ý nghĩa quốc tế trong sáng giữa hai nước đang cùng hướng tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội và phát huy ảnh hưởng tích cực trong khu vực.

- Việc triển khai quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào về các mặt, đặc biệt là các vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa – giáo dục – y tế; quóc phòng an nình...

2. Quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (1986-2017).

- Nêu rõ bối cảnh quốc tế và khu vực; những chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Đảng Nhân dân cách mạng Lào; những thành tưu về củng cố và tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện trong giai đoạn đầu công cuộc đổi mới của hai nước Việt Nam – Lào (1986-1996).

- Nêu rõ yêu cầu mới, nội dung và những thành tựu của sự hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào-Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh công cuộc đổi mới (1996- 2017), là yếu tố quyết định trong việc củng cố và phát triển, tạo tiền đề cho việc tăng cường và mở rộng hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào-Việt Nam trong giai đoạn mới.

5. Những kỷ niệm sâu sắc về tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai dân tộc Việt-Lào trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay

Mục đích: Ghi lại những câu chuyện, những kỷ niệm sâu sắc của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ từng thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Lào trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Yêu cầu: Bài viết phải phản ánh trung thực, khách quan, đúng với những gì lịch sử diễn ra.

- Đó có thể là một kỉ niệm thời trận mạc;

- Những trang hồi ức sâu nặng nghĩa tình;

- Những tình cảm gắn bó, thắm thiết giữa cán bộ, chiến sĩ Việt Nam với quân dân Lào trong những năm kháng chiến;

- Những ấn tượng sâu sắc về thành tựu của quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam trong thời kì xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.v.v..

6. Những biểu hiện sinh động của mối quan hệ đoàn kết, gắn bó thủy chung, son sắt của hai dân tộc Việt Nam -Lào dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước từ khi thiết lập mói quan hệ hợp tác và hữu nghị đến nay.

Mục đích: Làm rõ những thành tựu của mối quan hệ đoàn kết, gắn bó thủy chung, son sắt của hai dân tộc dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1977 đến nay, đó là những biểu hiện sinh động của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.

Yêu cầu: Bài dự thi phải khái quát được những thành tựu:

- Trong giai đoạn 1977 đến nay, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng với nỗ lực và sự đoàn kết quyết tâm cao, hai nước Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam vẫn đạt được nhiều thành công lớn trên mọi lĩnh vực.

+ Về lĩnh vực hợp tác trong lĩnh vực chính trị và đối ngoại;

+ Lĩnh vực quốc phòng, an ninh;

+ Quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học-kỹ thuật;

+ Về hợp tác giữa các địa phương và ngoại giao nhân dân.

- Đó thực sự là những biểu hiện sinh động của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt trong thời kì mới dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước.

7. Những kinh nghiệm quý báu về việc gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào

Mục đích: Làm rõ những bài học học kinh nghiệm chủ yếu về việc gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.

Yêu cầu: Bài dự thi phải nêu và phân tích được những kinh nghiệm chủ yếu:

Thứ nhất, phải xác định đúng đắn hệ thống quan điểm lí luận về mối quan hệ dân tộc và quốc tế trong thời đại mới giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình xây dựng, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.

Thứ hai, phải xác định nội dung, phương thức xây dựng quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam là cụ thể hóa hệ thống quan điểm lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về quan hệ quốc gia và quốc tế trong điều kiện cụ thể của hai nước để hướng dẫn hoạt động của Đảng, của hệ thống chính trị và quân, dân hai nước Việt Nam, Lào nhằm đạt tới mục tiêu cách mạng do hai bên xác lập.

Thứ ba, tình cảm cách mạng thủy chung, trong sáng của Đảng Cộng sản  Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào là một nhân tố trọng yếu tạo nên độ bền vững và phát triển của mối quan hệ Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.

Thứ tư, khai thác, phát huy các nhân tố, điều kiện cần thiết để xây dựng, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.

8. Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam trong lịch sử của hai dân tộc và trên những chặng đường phát triển mới.

Mục đích: Làm rõ tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam trong lịch sử của hai dân tộc và trên những chặng đường phát triển mới.

Yêu cầu: Bài dự thi phải chuyển tải được các nội dung:

- Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng mỗi nước; là quy luật tồn tại và phát triển của cả hai nước ở hiện tại và tương lai.

- Gìn giữ và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam chính là gìn giữ thành quả cách mạng mà biết bao thế hệ quân dân hai nước đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của hai nước; gìn giữ truyền thống và bản sắc tốt đẹp của nhân dân hai nước được lưu truyền qua nhiều thế hệ; gìn giữ công cuộc xây dựng đất nước và cuộc sống ấm no mà nhân dân hai nước đang thụ hưởng.

- Gìn giữ, phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam là mong muốn và nguyện vọng chính đáng của nhân dân hai nước vì sự phát triển bền vững; là góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động hòng xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, hai dân tộc.

- Đối với thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của hai nước, gìn giữ và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam là một nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, nó gắn liền và quyết định tới mọi thành công của mỗi người trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của thế hệ trẻ.

9. Những cảm nhận về nền văn hóa, về đất nước và con người Lào.

Mục đích: Nêu lên những cảm nhận của mình đối với nền văn hóa, về đất nước và con người Lào.

Yêu cầu:

- Về nền văn hóa:

+ Lào có nền văn hóa được hình thành từ lâu đời, không ngừng bồi tụ, phát triển theo thời gian; rất phong phú và đa dạng.

+ Văn hóa Lào nằm trong cơ tầng văn hóa Đông Nam Á nên mang những đặc trưng chung của văn hóa Đông Nam Á

+ Tuy có những nét chung của văn hóa Đông Nam Á nhưng văn hóa Lào có rất nhiều nét riêng biệt, đó là bản sắc văn hóa của dân tộc Lào.

          * Về văn hóa vật chất của người Lào.

          * Về văn hóa tinh thần của người Lào.

- Về đất nước:

+ Đất nước Lào có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với Đông Dương và Đông Nam Á.

+ Lào là một đất nước thanh bình, thiên nhiên hùng vĩ, giàu tài nguyên.

+ Đất nước Lào có truyền thống lịch sử lâu đời, truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm anh dũng kiên cường.

- Về con người:

+ Nhân dân Lào cần cù, chăm chỉ và ham học hỏi.

+ Có tinh thần vươn lên khắc phục khó khăn trong lao động sản xuất cũng như chống giặc ngoại xâm.

+ Có tinh thần cố kết dân tộc cao và tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, đặc biệt với nhân dân Việt Nam.

10. Cần làm gì để gìn giữ, phát huy tình cảm hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào.

Mục đích: Nêu những nội dung cần phải làm để gìn giữ, phát huy tình cảm hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào.

Yêu cầu: Bài dự thi phải nêu được những nội dung sau:

Để gìn giữ, phát huy tình cảm hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào chúng ta cần phát suy sức mạnh tổng thể của cả hệ thống chính trị và nhân dân hai nước trên cơ sở phát huy những kinh nghiệm được đúc kết trong lịch sử và tăng cường đẩy mạnh hợp tác trên mọi lĩnh vực.

+ Hợp tác trong lĩnh vực chính trị và đối ngoại. Đây là lĩnh vực hợp tác  đặc biệt quan trọng trong mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam. Do vậy, hai bên phải thường xuyên có các cuộc tiếp xúc, trao đổi đoàn cấp cao và các cấp, thông báo cho nhau tình hình phát triển của mỗi nước và cùng nhau trao đổi, hợp tác giải quyết những vấn đề liên quan đến mối quan hệ đặc biệt cũng như những vấn đề quốc tế và khu vực hai nước quan tâm, từ đó nâng tầm mối quan hệ Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới.

+ Phải tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Trước sự biến đổi mạnh mẽ của tình hình thế giới và khu vực, đặc biệt là trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và phản động, việc tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh trong tình hình cách mạng mới là việc làm tiên quyết để gìn giữ và phát huy tình cảm hữu nghị và tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt  Nam đã được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử.

+ Phải đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học-kĩ thuật. Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển cách mạng hai nước và mối quan hệ Việt Nam-Lào ở cả hiện tại và tương lai. Trên tinh thần đó, Chính phủ hai nước Việt Nam và Lào cần đẩy mạnh hợp tác, thông qua các Hiệp định về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học-kĩ thuật hàng năm và từng giai đoạn, tạo điều kiện hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển. Khi kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện sẽ tác động tương hỗ cho các mối quan hệ hợp tác khác giữa hai nước.

          Với những thành tựu đã đạt được, quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học-kĩ thuật giữa hai nước đang trở thành yếu tố quyết định trong việc củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam, tạo tiền đề cho việc tăng cường và mở rộng hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam lên tầm cao mới.

+ Phải thắt chặt hơn nữa hợp tác giữa các địa phương và nhân dân hai nước. Quan hệ giữa các địa phương và nhân dân hai nước không chỉ diễn ra ở các tỉnh có chung đường biên giới mà cần được đẩy mạnh thông qua sự kết nghĩa giữa các tỉnh. Đặc biệt, thông qua Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam-Lào, Lào- Việt Nam và qua các Chi hội Hữu nghị ở các tỉnh, quan hệ giữa nhân dân hai nước phải được tiến hành thường xuyên với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Đi cùng với đó, phải tích cực truyên truyền, giáo dục để nhân dân hai nước hiểu rõ về lịch sử mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam, trước mắt là tuyên truyền, cổ vũ nhân dân hai nước tích cực tham gia cuộc thi tìm hiểu Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam do Bộ Chính trị  của hai Đảng đã thống nhất phát động.

11. Tại sao các thế lực thù địch xuyên tạc gây chia rẽ quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào Việt Nam

Mục đích: Làm rõ âm mưu của các thế lực thù địch trong chiến lược chống chủ nghĩa xã hội, xuyên tạc sự thật về chủ nghĩa xã hội, âm mưu lái cách mạng Việt Nam và Lào từ bỏ con đường đi theo chủ nghĩa xã hội; chia rẽ đoàn kết của hai dân tộc vì những mưu đồ đen tối gây bất lợi cho cách mạng của mỗi nước.

Yêu cầu: Bài dự thi phải chuyển tải được các nội dung:

- Âm mưu thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.

- Những biện pháp nhận diện, đấu tranh chống lại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và dân chúng mỗi nước. 

- Gìn giữ, phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam; khắc phục kịp thời những yếu kém, bất cập hiện nay vừa là mong muốn và nguyện vọng chính đáng của nhân dân hai nước vì sự phát triển bền vững; vừa là góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động hòng xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, hai dân tộc.

12. Tại sao hai dân tộc Việt Nam-Lào phải yêu thương gắn bó chặt chẽ với nhau.

Mục đích: Nêu được lý do tạo sao hai dân tộc Việt Nam-Lào phải yêu thương gắn bó chặt chẽ với nhau.

Yêu cầu: Sở dĩ hai dân tộc Việt Nam-Lào phải yêu thương gắn bó chặt chẽ với nhau:

+ Vì quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt, đầy hy sinh, gian khổ vì độc lập, tự do, hạnh phúc của hai dân tộc và nhân dân hai nước, đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa tới nhiều thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ đất nước, cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đối với nhân dân hai nước Việt Nam, Lào, quan hệ đặc biệt được coi là lẽ sống, là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan nguy hiểm đến chừng nào cũng không thể chia tách được.

+ Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, sự nghiệp đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế mà nhân dân hai nước đang tiến hành đã tạo ra những xung lực mới, đồng thời đặt ra những yêu cầu khách quan về gia tăng mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam-Lào; Lào-Việt Nam với những phương thức mới và những nội dung mới, do dó hai dân tộc cần phải đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển, cùng đạt được những mục đích đề ra của cách mạng hai nước.

+ Trước sự diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, các thế lực thù địch và phản động đang tìm mọi cách xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam. Do vậy, hơn lúc hết, hai dân tộc phải yêu thương, gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng nhau đoàn kết làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng và công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân hai nước.

+ Trong bối cảnh đoàn kết hợp tác rộng mở trên thế giới hiện nay, xuất hiện nhiều hình thức liên kết hợp tác song phương và đa phương với nhiều mục đích khác nhau, do vậy hai dân tộc Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam cần gắn bó chặt chẽ bên nhau, cùng nhau xây đắp mối quan hệ đặc biệt trở thành một mẫu mực về tình đoàn kết quốc tế trong lịch sử thế giới đương đại, đồng thời cũng vì sự phát triển bền vững của mỗi nước./.

Biên tập: Quách Thị Hải Thanh

Kỹ thuật: Hồng Thắm

Nhằm tuyên truyền sâu rộng nâng cao nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về vị trí, vai trò và tác dụng của công tác thông tin cơ sở; thông qua đó phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của tổ chức, cá nhân để làm tốt công tác thông tin ơ sở, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới. Ngày 30 tháng 5 năm 2017 Huyện uỷ Lạc Thuỷ đã xây dựng kế hoạch Số 65-KH/HU về việc tuyên truyền thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 05/9/2016 của Ban Bí thư (khoá XII) về “Đẩy mạnh công tác thông tin cơ sở trong tình hình mới”, với nội dung sau:

1. Tuyên truyền, làm rõ vị trí, vai trò và những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập trong công tác thông tin cơ sở thời gian qua; chỉ rõ nguyên nhân và bài học kinh nghiệm, trong đó cần tập trung làm rõ:

- Vị trí, vai trò và tác dùng của công tác thông tin cơ sở đối với việc tuyên truyền,phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đối với việc tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở cũng như việc cung cấp thông tin, kiến thức cần thiết tới người dân trên địa bàn xã, thị trấn.

- Những hạn chế, bất cập chủ yếu trong công tác thông tin cơ sở hiện nay, như: nội dung thông tin còn đơn điệu, ít thiết thực, chưa được phổ cập rộng rãi tới người dân; phương thức truyền thông chủ yếu vẫn theo cách làm truyền thống, chưa theo kịp với xu hướng của công nghệ thông tin và đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới.

- Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, bất cập trong công tác thông tin cơ sở là do chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác này; cấp uỷ, chính quyền các cấp nhận thức chưa đầy đủ về phạm vi, ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của công tác thông tin cơ sở; sự phối hợp chỉ đạo của các cấp, các ngành còn thiếu chặt chẽ và thống nhất về phương thức truyền thông, lựa chọn thông tin.

2. Tuyên truyền, quán triệt sâu sắc quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp nâng cao chất lương, hiệu quả công tác thông tin trong tình hình mới được nêu trong Chỉ thị số 07-CT/TW, trong đó tập trung tuyên truyền, giải thích rõ:

- Quan điểm của Đảng: Công tác thông tin cơ sở là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.

- Nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thông tin cơ sở trong tình hình mới:

+ Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ các phương tiện truyền thông hiện đại với cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết chế văn hoá – thông tin ở cơ sở hiện có và Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới để làm tốt công tác thông tin cơ sở; đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin, kiến thức cần thiết cho cuộc sống, lao động, sản xuất, kinh doanh của người dân ở địa bàn xã, thị trấn; đồng thời chủ động đấu tranh phản bác những thông tin xấu, độc hại, góp phần củng cố sự đoàn kết, đồng thuận ở cơ sở và từ cơ sở.

+ Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại về viễn thông, truyền thông đa phương tiện; đồng thời chú trọng tăng cường công tác tuyên truyền miệng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.

+ Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác thông tin cơ sở lồng ghép vào Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới và các chương trình mục tiêu, dự án phát triển kinh tế - xã hội của các bộ, ngành, địa phương để khai thác, sử dụng có hiệu quả, tránh chồng chéo, lãng phí.

+ Tập trung rà soát, củng cố, tổ chức lại các thiết chế văn hoá – thông tin cơ sở hiện có (Đài truyền thanh xã, thị trấn, xe tuyên truyền lưu động huyện, điểm bưu điện – văn hoá xã, tủ sách pháp luật, nhà văn hoá, trung tâm học tập cộng đồng,…) để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và phù hợp với thực tế của địa phương, cơ sở trong tình hình mới.

3. Tuyên truyền, chỉ rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, nhất là các ngành trong khối tư tưởng – văn hoá…; vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp uỷ đảng, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo, chỉ đoạ công tác thông tin cơ sở; đồng thời, chú trọng tuyên truyền phát hiện, nhân rộng những điện rhinhf, nhân tổ mới, những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo trong triển khai thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền ở cơ sở; đấu tranh, phế phán những biểu hiện tiêu cực, bưng bít thông tin hoặc thông tin không chính xác, gây cản trở việc triển khai thực hiện công tác thông tincow sở cũng như việc thực hiện quyền được thông tin và tiếp cận thông tin của công dân.

Biên tập: Quách Thị Hải Thanh

Kỹ thuật: Hồng Thắm

Để kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 diễn ra an toàn, nghiêm túc, tiếp tục bảo đảm gọn nhẹ, thiết thực hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thí sinh tham gia kỳ thi, Uỷ ban nhân dân huyện Lạc Thuỷ đề nghị:

          1. Các cấp uỷ đảng, chính quyền cơ sở, đặc biệt là các địa phương có trường THPT đứng chân trên địa bàn làm tốt công tác tuyên truyền, nắm bắt tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là của các bậc phụ huynh và học sinh; chuẩn bị mọi điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất, các phương án đảm bảo an ninh trật tự, chăm lo sức khoẻ cho thí sinh.

          2. Các ngành trong khối Tư tưởng - Văn hoá tăng cường công tác tuyên truyền nhằm thông tin kịp thời, đầy đủ về mục đích, ý nghĩa và những nội dung cơ bản của kỳ thi, nhất là những điểm mới nhằm nâng cao nhận thức cho các cấp uỷ đảng, chính quyền, giáo viên, phụ huynh và học sinh để không xẩy ra các hiện tượng tiêu cực hoặc sai sót trong quá trình tổ chức thực hiện kỳ thi.

          3. Các trường Trung học phổ thông, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên huyện đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt quy chế thi cho cán bộ, giáo viên và học sinh; phối hợp chuẩn bị các điều kiện, tổ chức tốt kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2017 theo tinh thần đổi mới, đảm bảo trung thực, an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế.

Biên tập: Quách Thị Hải Thanh

Kỹ thuật: Hồng Thắm

Cộng tác viên: Xuân Đạt