gioiitieuchung

lichsuvanhoa

dialyhanhchinh

dieukientunhien

TRUYENTHANH

TRUYENHINH

 cttdt

i 02

hoi dap

 timhieuphapluat

CUM CONG NGHIEP

22222222222

33333

43545454354

thudientu

Du lịch Lạc Thủy

img

437904
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
859
728
1587
386262
13715
19241
437904

Your IP: 192.168.51.1
2017-11-20 20:55
SỐ LIỆU KINH TẾ - XÃ HỘI
 

- Nông lâm ngư nghiệp chiếm 43%.

 

- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm 23%.

 

- Dịch vụ thương mại và thu nhập khác chiếm 34 %.

 

- Sản lượng lương thực có hạt là: 2746,3 tấn đạt 87% so với kế hoạch giảm so với năm 2008 là 4.78%.

 

- Thu nhập bình quân đầu người đạt 9.633.000đ so với kế hoạch đạt 98.3% so với năm 2008 tăng 10.7%.

 

* Văn hoá xã hội:

- Tỷ lệ hộ nghèo……..% .

- Tỷ lệ học sinh lên lớp đạt ……..%.

- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt 100%.

- Các tai tệ nạn xã hội được đẩy lùi, đời sống nhân dân ngày càng ổn định, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

* Sau đây là kết quả cụ thể trên các lĩnh vực:

I. Lĩnh vực kinh tế.

1) Sản xuất nông lâm nghiệp.

Ngay từ đầu năm thời tiết ấm thuận lợi cho phát triển sản xuất và chăn nuôi UBND xã đã có kế hoạch chi tiết, phân công cán bộ phụ trách đến từng địa bàn thôn bản động viên nhân dân thúc đẩy sản xuất. thực hiện nhiều hình thức chuyển giao kỹ thuật. Chuyển giao tư vấn tăng thu nhập được ….. lớp bằng …… lượt người.

 Kết quả tổng diện tích gieo trồng trong năm thực hiện được: 1020ha so với kế hoạch năm tăng 91.37% so với năm 2008 tăng 0.79

Trong đó:

+ Diện tích cây lương thực có hạt 629 ha.

* Cây lúa:

+ Diện tích cấy lúa : 294 ha đạt 100% so với kế hoạch năm. so với năm 2008 tăng 2%.

+ Diện tích giống lúa lai đạt 60 % so với tổng diện tích gieo trồng.

Năng suất cây lúa đạt 37 tạ/ha, sản lượng là 1085.3 tấn.

* Cây ngô:

+ Diện tích cây ngô: 335ha đạt 98.52% so với kế hoạch năm. so với năm 2008 giảm 9.11%.

+ Diện tích Ngô lai đạt 100% so với tổng diện tích gieo trồng.

Năng suất bình quân đạt 49 tạ/ha sản lượng là 1661 tấn.

* Diện tích cây mầu khác đạt 391.8 ha so với kế hoạch đạt 94.2% so với năm 2008 tăng 23%.

Trong đó:

+ Cây lạc 63 ha năng xuất 15.2 tạ/ha sản lượng 95.9 tấn đạt 190% so với kế hoạch năm.

+ Dưa hấu 25 ha năng xuất 150 tạ/ha sản lượng 375 tấn đạt 125% so với kế hoạch năm.

+ Rau các loại 61 ha năng xuất 80 tạ/ha sản lượng 492 tấn đạt …..% so với kế hoạch năm.

+ Đậu các loại 485 ha năng xuất 13.5 tạ/ha sản lượng 65.5 tấn đạt 133% so với kế hoạch năm.

+ Bí xanh 86 ha năng xuất 150 tạ/ha sản lượng 1.290 tấn đạt 132,3% so với kế hoạch năm.

+ Khoai lang 11,5 ha năng xuất 55 tạ/ha sản lượng 63 tấn đạt 27.3% so với kế hoạch năm.

+ Sắn 38,5 ha  năng xuất 80 tạ/ha sản lượng 308 tất đạt….so với kế hoạch năm đạt.

+ Cây mía 42 ha năng xuất 200tạ/ha sản lượng 8400 tấn đạt….. so với kế hoạch năm đạt.

+ Khoai sọ 16,3 ha năng xuất 40 tạ/ha sản lượng 65,2tấn  đạt 116% so với kế hoạch năm.

+ Trong năm 2009 được nhà nước hỗ trợ máy nông cụ phục vụ sản xuất theo chương trình 135 giai đoạn II được 8 máy bơm nước, 3 máy cầy tay với tổng trị giá: 90.330.000đ , đang tiến hành phân bổ cho các cơ sở.

2- Chăn nuôi.

thời tiết ấm áp phù hợp cho việc phát triển chăn nuôi. UBND xã thường xuyên chỉ đạo làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh tiêu trùng khử độc vệ sinh chuồng trại chủ động kết hợp với trạm thú y Huyện, duy trì chốt kiểm dịch gia súc trên địa bàn xã. Tiến hành tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm.

Kết quả đã tiêm phòng được 2.200 lượt con trâu bò, dê, 32.664 lượt con gia cầm nên không có dịch bệnh bùng phát cục bộ, đàn gia súc gia cầm trong năm luôn duy trì ở mức sau:

 - Đàn trâu có 905 con.

- Đàn bò có 656 con.

- Đàn lợn có 3130 con.

- Đàn Dê 475 con.

- Đàn gia cầm có 25.768 con .

- Đàn ong có 420 thùng.

- Diện tích nuôi trồng thuỷ sản nhân dân đã tận dụng những diện tích ao hồ cải tạo thành ao nuôi cá vụ đến nay cả xã đã có 80 ha ao nuôi cá, các hộ đã đầu tư con giống vào số diện tích ao hiện có.

3- Sản xuất lâm nghiệp.

Tổng diện tích đất rừng toàn xã là 1.881,57ha trong đó rừng phòng hộ là 1.269,1ha, rừng khoanh nuôi bảo vệ là 350ha, rừng sản xuất là 6  12,47ha. diện tích khai thác được 4,5ha, sau khai thác nhân dân trồng lại ngay không để đất trống, diện tích rừng trồng mới được 9 ha, Công tác quản lý và bảo vệ rừng được tăng cường, ban chỉ huy phòng chống cháy rừng được kiện toàn, xây dựng được kế hoạch và phương án quản lý bảo vệ rừng, công tác tuyên truyền vận động nhân dân nâng cao nhận thức về công tác quản lý bảo vệ rừng được coi trọng.

4. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp.

Các ngành nghề và các cơ sở sản xuất của tư nhân được địa phương tạo điều kiện giúp đỡ, khuyến khích phát triển tổ chức khai thác sản xuất tại chỗ vật liệu xây dựng khắc phục khó khăn, đã duy trì sản xuất các sản phẩm làm ra đều tiêu thụ hết trên thị trường. Kết quả một số ngành sản xuất chính đã đạt được như sau:

* Sản xuất vật liệu xây dựng.

- Đá hộc 60.000 m3 so với kế hoạch năm tăng 20% so với năm 2008 tăng 13.2%.

- Cát …….. m3 so với kế hoạch năm ………% so với năm 2008………%.

- Sỏi đá các loại : 51.000 m3 so với kế hoạch năm tăng 0.2% so với năm 2008 tăng 10.8%.

 - Gạch bi 182000 viên so với kế hoạch năm tăng 0.2% so với năm 2008 tăng 13.7%.

* Ngành nghề khác.

Một số ngành nghề như xay xát lương thực, gò hàn kim khí, chế biến chè khô, chế biến lương thực, thực phẩm khác được chú trọng phát triển. Cơ sở sản xuất gạch tuy len đã đi vào hoạt động chuẩn bị cho ra thị trường sản phẩm mới.

5- Đầu tư xây dựng cơ bản.

Kết hợp giữ nhà nước và nhân dân cùng làm năm 2009 đã hoàn thành  các hạng mục công trình nước sạch cho 2 thôn Đồng Danh và thôn Rị, 13 phòng học cho 2 nhà trường Mầm non và Trường Tiểu học ở thôn Đồng danh, thôn Tân lâm, thôn Đồng tiến và trung tâm xã với tổng gía trị đầu tư là: 4 tỷ đồng bằng nguồn vốn cứng hoá phòng học và vốn đầu tư nước sạch nông thôn.

Xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ngân sách xã

Tình hình xây dựng nhà ở và các công trình khác của nhân dân trong xã: Mặc dù giả cả thị trường có nhiều biến động nhưng nhân dân đã tiết kiệm đầu tư xây dựng các công trình kiên cố vững trắc ở hầu hết các thôn trong xã.

6- Phát triển kinh tế trang trại.

Kinh tế trang trại có nhiều chuyển biến tích cực, các chủ trang trại đã tăng cường đầu tư vốn, kỹ thuật, phát triển kinh tế hàng hoá theo hướng nông lâm kết hợp để nâng cao thu nhập. Toàn xã có 39 hộ được cấp trên cấp giấy chứng nhận Huyện hỗ trợ giống, lại vay khuyến khích phát triển kinh tế trang trại đạt kết quả cao. Đưa ra xã hội nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, giải quyết việc làm cho người lao động tăng thu nhập kinh tế hộ.

7- Công tác tài chính ngân hàng thương mại và dịch vụ.

a) Công tác tài chính.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt được: 718.989.062 đồng đạt 49,62% so với kế hoạch năm.

Tổng thu ngân sách xã được: 639.278.614 đồng đạt 42.9 % so với kế hoạch năm

Trong đó:

- Thu trợ cấp ngân sách được: 586.941.000 đồng đạt 70.8 % so với kế hoạch năm.

- Tổng chi ngân sách được : 485.350.680 đồng đạt 31.08% so với kế hoạch năm.

Trong đó:

- Chi cho con người: 402.774.680đ..

- Chi thường xuyên: 82.576.000đ.

b) Công tác ngân hàng.

UBND xã kết hợp với mạng lưới ngân hàng, các ban ngành đoàn thể tuyên truyền vận động nhân dân quản lý và sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả. Phòng đại diện ngân hàng chính sách xã hội mở chi nhánh đại diện tại xã, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn bám sát địa bàn cơ sở thực hiện cho vay thu nợ, thu lãi, giám sát vốn vay. Đáp ứng nhu cầu vay vốn, sản xuất kinh doanh, trồng trọt, chăn nuôi, phát triển ngành nghề và vốn vay ưu đãi cho học sinh, sinh viên nghèo, hoạt động dịch vụ thúc đẩy kinh tế trong xã phát triển, tỷ lệ dư nợ quá hạn không có. Kết quả danh số cho vay là 31.900.000.000đ.

Trong đó:

- Vốn vay ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn là 25.000.000.000đ.

- Vốn vay ngân hàng chính sách xã hội  6.900.000.000đ.

c) Thương mại - dịch vụ và thu nhập khác.

Kết hợp với quản lý thị trường và các cơ quan chức năng của Huyện thường xuyên tăng cường giám sát và quản lý về chất lượng hàng hoá, các thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh, cung cầu hàng hoá ổn định, chủng loại mẫu mã hàng hoá đa dạng phong phú, giá cả thị trường có nhiều biến động làm ảnh hưởng đến giao lưu thu nhập của nhân dân mặc dù vậy số doanh thu năm 2009 vẫn đạt được 13.022.467.000.đồng.

Trong đó:

        - Gía trị vận tải hàng hoá là 2.211.967.000 đồng.

        - Luân chuyển hàng hoá đạt 4.300.000.000 đồng.

        - Dịch vụ khác 6.510.500.000 đồng.

8- Công tác giao thông thuỷ lợi và phòng chống thiên tai.

          Ngay từ đầu năm các cơ sở trên địa bàn xã đã tích cực làm giao thông thuỷ lợi, chủ động làm đường giao thông nông thôn, nạo vét 11km kênh mương phục vụ cho tưới, tiêu về mùa mưa lũ, làm tốt công tác quản lý, sử dụng nguồn nước các hồ đập, điều tiết bảo vệ an toàn trong mùa mưa, tích cực phục vụ sản xuất, đời sống trong mùa hanh khô. Trong năm 2009 đã sửa chữa được 29km đường giao thông liên thôn, Đào đắp nạo vét rãnh phát quang tầm nhìn đường giao thông là 32.000m. đất đã vá ổ gà 1.100 m3, số ngày công lao động 3.500 công.

         Công tác phòng chống thiên tai lũ bão. Ban phòng chống lụt bão của xã  được kiện toàn, cơ quan thường trực là Ban chỉ huy quân sự xã cùng với các đơn vị kiểm tra lập kế hoạch sẵn sàng ứng cứu tại các vùng trọng điểm nhằm hạn chế đến mức thấp nhất do thiên tai gây ra.

9. Công tác địa chính quản lý tài nguyên và môi trường.

          Tập trung tuyên truyền phổ biến thực hiện Luật đất đai và Luật bảo vệ môi trường, thống kê biến động đất đai trên cơ sở đó để kiểm tra rà soát các quỹ đất, bổ xung quy hoạch sử dụng đất trong năm.

năm 2009 đã tiếp nhận 33 hồ sơ về đất đai trong đó có 30 hồ sơ cấp quyền và chuyển nhượng đất đã sử lý song. 3 đơn thư khiếu nại về đất đai, 2 trường hợp đang giải quyết và 1 trường hợp gửi cấp trên giải quyết.

Phát động, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện pháp lệnh bảo vệ, vệ sinh môi trường từ các thôn bản đến khu trung tâm cụm xã xanh, sạch đẹp.

Bên cạnh kết quả đạt được còn có những tồn tại: Trong công tác giải quyết đơn thư khiếu nại trong lĩnh vực đất đai còn có mặt hạn chế, chưa đảm bảo thời gian giải quyết theo quy định một số đơn còn để kéo dài. Nguyên nhân do xã chưa được đo đạc địa chính và hồ sơ địa chính chưa được khép kín. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dựa trên kết quả tự kê khai của các hộ vì vậy việc giải quyết đơn thư phải dựa vào việc lấy ý kiến xác minh từ trong nhân dân dẫn đến thời gian giải quyết không đảm bảo.

Chưa phát hiện và sử lý kịp thời các sai phạm trong lĩnh vực đất đai nguyên nhân do địa bàn rộng lực lượng cán bộ có hạn. Trong khi đó đội ngũ cán bộ thôn không báo cáo kịp thời.